Gadget

This content is not yet available over encrypted connections.

Sunday, October 11, 2015

Trung Quốc cho Việt Nam thuốc chữa sốt rét còn Mỹ cho Việt Nam chất độc màu da cam

Trong bài viết "For Vietnam: Artemisinin From China, Agent Orange From America", giáo sư John Walsh so sánh về nỗ lực của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, chỉ ra rằng Hoa Kỳ đã thất bại trong việc phát triển thuốc chữa bệnh sốt rét trong khi Trung Quốc nghèo nàn hơn lại thành công. Thuốc chữa bệnh sốt rét đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu sống nhiều triệu mạng người, nỗ lực của Trung Quốc đã được công nhận rất muộn bằng giải Nobel sinh học/y học. Ngay cả khi phải thừa nhận thành công của Trung Quốc, truyền thông phương Tây cũng không quên xuyên tạc, bóp méo sự thật để hạ thấp Trung Quốc. 


Chiến dịch Ranch Hand, rải chất độc màu da cam ở Việt Nam
Một nửa giải Nobel về y học hoặc sinh lý học sẽ được trao cho Tu Youyou vì khám phá ra thuốc artemisinin chống lại bệnh sốt rét. Nhiều người nghiên cứu khoa học công nghệ sinh học cảm thấy điều này đã bị trì hoàn quá lâu.

Phát hiện ra artemisinin đã cứu sống hàng triệu người. Giải Nobel là một thừa nhận xứng đáng đối với tiến sĩ Tu, đối với Trung Quốc và vai trò tiến bộ của phụ nữ trong khoa học ở Trung Quốc cũng như khắp thế giới.

Đây là câu chuyện kể thú vị về phát kiến của bác sĩ Tu. Tờ The Hindu của Ấn Độ đã công bố câu chuyện ở đây:
(Vào những năm 1960, Bắc Việt và Việt Cộng đang có chiến tranh chống lại sự xâm lược quy mô lớn của Hoa Kỳ, bệnh sốt rét lan tràn trong khu vực. jw) Đấu tranh với căn bệnh sốt rét đang tàn phá quân đội, thủ tướng Hồ Chí Minh [1] của Việt Nam yêu cầu chủ tịch Mao thiết lập một chương trình nghiên cứu quân sự bí mật để điều trị bệnh sốt rét với thuốc truyền thống của Trung Quốc. Dự án 523 (có thể được khởi sự vào ngày 23 tháng 5) bắt đầu nghiên cứu cách điều trị vào năm 1967. Chương trình được chính thức kết thúc vào năm 1981.
Sự thúc giục của Mao dẫn đến khám phá của Tu 

Trong gần hai thiên niên kỷ, các thầy thuốc Trung Quốc đã sử dụng lá cây thanh hao hoa vàng để chữa sốt. Nhóm của Tu đã thu thập 2.000 công thức với 640 loại thảo mộc, từ đó Tu thu gọn lại thành một số ứng cử viên tiềm năng. Dự án dẫn đến việc khám phá ra thuốc chữa sốt rét artemisinin, là một trong những sự chuyển hóa thành công nhất liệu pháp truyền thống thành phương thuốc hiện đại.

“Trong vài năm, hàng trăm nhà khoa học đã thử nghiệm hàng ngàn chất tổng hợp nhân tạo mà không thành công, cũng cần phải biết rằng chương trình tương tự ở Hoa Kỳ cũng không đem lại kết quả gì,” một bài báo trên tờ New Scientist được xuất bản vào thứ hai sau thông báo về giải thưởng ghi nhận. “Thuốc tổng hợp không được tiếp tục, sự chú ý quay trở lại với các phương thuốc truyền thống của Trung Quốc. Chính quyền yêu cầu Học Viện Y Học Cổ Truyền Trung Quốc ở Bắc Kinh bổ nhiệm một nhà nghiên cứu để tìm kiếm các thảo mộc trong vườn của Trung Quốc cho việc chữa trị. Học viện chọn Tu, một nhà khoa học ở giữa sự nghiệp đã nghiên cứu cả thuốc Trung Quốc và phương tây, đủ hiểu biết về cả hai để thực hiện điều đó không phải là công việc đơn giản.” Tu làm theo các hướng dẫn trong văn bản cổ 1.600 tuổi đời có tên là “Đơn thuốc cấp cứu giữ mạng người”. Văn bản viết rằng cây thanh hao hoa vàng phải sắc bằng nước và uống lỏng. 

“Các nhà nghiên cứu thủ nghiệm liều thuốc trên khỉ và chuột và thấy hiệu quả 100%,” tờ New Scientist trích dẫn lời của Tu. “Chúng tôi đã tạo ra thuốc chữa sốt rét,” Tu nói. “Chúng tôi rất phấn khởi.”

Giờ là điều mà Hoa Kỳ làm cùng lúc đó, Hoa Kỳ tham gia vào cuộc chiến bất hợp pháp và tội ác ở Việt Nam dựa trên lời nói dối về sự kiện Vịnh Bắc Bộ, cáo buộc tàu chiến Việt Nam đã bắn vào tàu chiến Hoa Kỳ trên Vịnh Bắc Bộ [2]. Kết thúc cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, có ít nhất hai triệu người Đông Nam Á đã bị giết hại, theo Robert McNamara, kiến trúc sư trưởng của cuộc chiến do JFK bổ nhiệm. Còn có nhiều người Châu Á hơn nữa bị thương và phải di cư – 50.000 người Mỹ thiệt mạng, cũng không kém phần bi thảm hơn con số nhỏ của họ.

Để chống lại cuộc chiến tranh du kích của người Việt Nam, Hoa Kỳ đã rải nhiều tấn chất độc màu da cam xuống rừng rậm và dân cư, chắc chắn là một tội ác chiến tranh khủng khiếp. Điều này gây ra các bệnh tật nghiêm trọng và dị tật bẩm sinh của hàng trăm ngàn người, một di sản vẫn đang ám ảnh người Việt Nam. Hàng chục ngàn, có thể là hàng trăm ngàn, lĩnh Mỹ cũng bị nhiễm độc.*

Nhưng sự tương phản không thể rõ ràng hơn. Trung Quốc phát triển thuốc artemisinin trong khi đế quốc Hoa Kỳ rải chất độc màu da cam tại Việt Nam. Mỗi quốc gia có sự ưu tiên của mình và một hóa chất để phục vụ.

Rõ ràng là ngày nay vẫn không hề có sự thay đổi căn bản – khung cảnh những cánh đồng chết của đế quốc chỉ chuyển sang Trung Đông trong chốc lát và đang được lên kế hoạch để quay trở lại Đông Á với móng vuốt Nhật Bản của Hoa Kỳ vào lúc này. Nếu như kẻ khát máu Hillary trở thành tổng thống, Việt Nam và Iraq sẽ chỉ như là trò trẻ con so với những tàn phá và thiệt hại nhân mạng mà bà ta sẽ mang đến Đông Á. 

Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng đây là lúc để chống lại chiến tranh và thừa nhận sự độc ác của đế quốc. Mark Twain và Andrew Carnegie đã đúng khi họ tham gia thành lập Liên Đoàn Phản Đế để phản đối cuộc chiến của Hoa Kỳ ở Philippine. Từ lâu, chống chiến tranh đã không còn đủ nữa. Liên Đoàn Phản Đế thế kỷ 21 của chúng ta đâu? 

Bình luận bài đưa tin về bác sĩ Tu của tờ New York Time 

Nhìn chung, mục khoa học của tờ New York Times tương đối khách quan, tạo ra độ tin cậy cho một tờ tạp chí mà sự thật bị bác bỏ và nhào nặn điên cuồng trong phần tin tức quốc tế và chính trị. Nhưng ngay cả mục khoa học của tờ NYT cũng không thể tránh được việc tấn công kẻ thù chính thống như Trung Quốc.

Ví dụ, khi tờ Times đưa tin về thành tích của bác sĩ Tu, họ viết:
Nhưng người ta đã từ chối công nhận vị trí học giả cho bác sĩ Tu trong tổ chức khoa học danh giá nhất của Trung Quốc, dường như là bởi vì bà không được đào tạo ở nước ngoài và thiếu bằng tiến sĩ, một nhà bình luận khác cho biết. 
Đó có thể là sự thật và cũng có thể là không, nhưng tình hình đó không phải là duy nhất ở Trung Quốc. Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoa Kỳ cũng không kết nạp các nhà khoa học xuất chúng – sau đó họ lại vội vã công nhận khi các nhà khoa học gây bất ngờ và nhận giải Nobel. Tôi quen biết hai người được giải Nobel được Viện Hàn Lâm Quốc Gia công nhận “muộn” và rất nhanh chóng.

Sau đó là điều tương tự trong bài báo của tờ NYT:
Bà nói rằng bà “rất may mắn” là phụ nữ được tới trường đại học, theo một bài đăng trên blog của Songshuhui, một tổ chức phi chính phủ chuyên viết về khoa học.
Nhưng ở đây chúng ta đã không xem xét tới bối cảnh lịch sử. Bác sĩ Tu sinh năm 1930 và bà đủ lớn để tới trường đại học trước Giải Phóng vào năm 1949. Ít nhất cùng cần phải nói rằng, vào thời gian trước Giải Phóng, phụ nữ có ít quyền và là công dân hạng hai. Sau đó cùng với Giải Phóng và tuyên ngôn của Mao về việc phụ nữ “giữ một nửa bầu trời”, vị thế của phụ nữ đã tiến một bước khổng lồ chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Dĩ nhiên là hồ sơ lưu trữ của Hoa Kỳ không công nhận bất cứ thành tích nào của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Cuối cùng, có hai lý do lớn khiến Hoa Kỳ chiếm phần lớn số người được giải Nobel. Thứ nhất, Hoa Kỳ rất giàu có – mặc dù nguồn gốc của sự giàu có đó không liên quan đến chủ đề của chúng ta ở đây. Làm khoa học cần phải có rất nhiều tiền, Hoa Kỳ có sự giàu có đó. Thứ hai, nhà khoa học chúng ta đi đến nơi có tiền để có thể làm công việc của mình, đó là vấn đề ưu tiên số một đối với chúng ta. Do vậy, các nhà khoa học ngoại quốc tới Hoa Kỳ khi họ có thể. Hầu hết các những người giành giải Nobel của Hoa Kỳ được giáo dục ở quốc gia khác và là sản phẩm của hệ thống giáo dục và nền văn hóa khác. Hoa Kỳ thực chất là chỉ mua lại những khoản đầu tư. 

Dĩ nhiên sự xuyên tạc của tờ New York Times không chỉ là những điều trơ trẽn được Michael R. Gordon và các cộng sự đăng hầu như mỗi ngày trên mục tội phạm của trang nhất.

*Một ghi nhận về phát triển thuốc chữa sốt rét. Hoa Kỳ được cho là cũng có chương trình phát triển thuốc chữa sốt rét vào thời chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng bất chấp nguồn lực khổng lồ của Hoa Kỳ, họ đã thất bại trong khi Trung Hoa nghèo nàn hơn lại thành công. Khi chú ý tới việc Hoa Kỳ sẵn sàng khiến cho binh lính của họ nhiễm chất độc màu da cam, người ta không ngạc nhiên về sự nghiêm túc của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ binh lính. Nếu như vậy thì dĩ nhiên là Hoa Kỳ không thực sự nỗ lực phát triển thuốc chữa sốt rét. Đây là câu hỏi đáng để đặt ra.


Prof. John V. Walsh, MD, can be reached at john.endwar@gmail.com. He usually does not include his title in a little bio like this, but in this case the political essay above involved a bit about science. Can be reached at John.Endwar@gmail.com

Chú thích của người dịch:

[1] Giáo sư John V. Walsh đã nhầm lẫn, thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ những năm 1955 trở đi là Phạm Văn Đồng chứ không phải Hồ Chí Minh. 

[2] Hoa Kỳ đã can dự vào Việt Nam từ những năm 1954 khi viện trợ cho Pháp để chống lại Việt Minh. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ chỉ là cái cớ để Hoa Kỳ chính thức đưa quân đội vào chiếm đóng miền Nam Việt Nam và ném bom miền Bắc Việt Nam.

11 comments:

  1. Vậy là giải Nobel vừa rồi của Trung Quốc là dành cho công trình từ những năm 1960?

    Ở VN, trước kia có bác sĩ Đặng Văn Ngữ cũng nghiên cứu về sốt rét. Không biết trước khi mất, ông có để lại công trình gì đáng kể về sốt rét không nhỉ?

    ReplyDelete
    Replies
    1. Đúng vậy, nhiều phát kiến được trao giải Nobel rất muộn.

      Mình ít biết về y tế nên không rõ trường hợp của bác sĩ Đặng Văn Ngữ ra sao.

      Delete
  2. Đây là thông tin do con trai BS Đặng văn Ngữ cung cấp.
    "Sau khi đọc được tin này trên BBC tôi liền gặp bác sỹ Nguyễn Tiến Bửu, Trưởng đoàn chống sốt rét đi vào chiến trường Trị - Thiên năm 1967 cùng với GS Đặng Văn Ngữ để nghiên cứu vaccin chống sốt rét cho bộ đội. Bác sỹ Bửu rất ngạc nhiên về cái tin liên quan đến thuốc của bà Đồ U U đã cứu chữa cho bộ đội Việt nam.

    Là người làm việc tại Viện Sốt rét liên tục từ năm 1957 đến năm 1992 trước khi nghỉ hưu, BS Bửu chưa từng được nghe về dự án 523 do Trung Quốc lập ra để tìm thuốc chống sốt rét cứu bộ đội Việt Nam trong chiến tranh như báo The Guardian và tờ Telegraph của Anh đưa tin.Bác sỹ cho biết cụ thể tình hình chống sốt rét tại Miền Bắc Việt Nam trong những năm đó như sau:

    Từ năm 1957 đến năm 1962 Viện Sốt rét Ký sinh trùng và côn trùng đưới sự chỉ đạo của GS Viện trưởng Đặng Văn Ngữ đã tiến hành khảo sát, điều tra toàn diện bệnh sốt rét trên toàn Miền Bắc Việt Nam. Cuối năm 1962 Chính phủ Việt Nam đã thông qua một Chương trình Tiêu diệt bệnh sốt rét trên toàn miền Bắc trong 3 năm. Chủ tịch Ủy ban Tiêu diệt sốt rét TƯ là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và người chỉ đạo trực tiếp Chương trình là GS Viện trưởng Đặng Văn Ngữ.

    Tất cả các tỉnh thành đến các huyện xã đều có các Ủy ban tiêu diệt sốt rét của địa phương. Chương trình này nhận được sự viện trợ của Chính phủ Liên xô trước đây. Kết thúc chương trình, cuối năm 1964, bệnh sốt rét đã bị đẩy lùi xuống còn 20% - một thành quả rất khả quan nếu biết rằng trước đó có những vùng nông thôn, miền núi, tỷ lệ sốt rét chiếm tới 90 - 100% dân số.

    Những năm 60 của thế kỷ trước, cùng với cuộc chiến lan rộng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, sự giao lưu qua lại giữa hai miền Nam Bắc trên dãy Trường Sơn khiến bệnh sốt rét có nguy cơ lan từ miền Nam ra Miền Bắc, đe dọa những thành quả tiêu diệt sốt rét đã đạt được.

    Tháng 3 năm 1967, Giáo sư Đặng Văn Ngữ cùng các cộng sự gồm 12 y bác sỹ đã lên đường vào chiến khu Trị - Thiên Huế để nghiên cứu tại chỗ một loại vaccin chống sốt rét cho bộ đội, lập một vành đai miễn dịch cách ly hai miền Nam Bắc Việt Nam.

    Hướng nghiên cứu vaccin này là bắt muỗi sốt rét, mổ lấy tuyến nước bọt của muỗi rồi qua một quá trình nghiên cứu tiếp theo để cho ra một loại vaccin tiêm ngay tại chỗ cho các chiến sỹ từ Nam ra Bắc cũng như từ Bắc vào Nam.

    Công việc nghiên cứu chưa thành thì tháng 4 năm 1967, GS Đặng Văn Ngữ đã hy sinh trong một trận bom B52 tại miền Tây huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Một tuần sau khi giáo sư mất, căn phòng làm việc của Giáo sư tại Viện Sốt rét ở Mễ Trì - Hà Nội cũng bị bom Mỹ đánh sập cùng các tài liệu nghiên cứu của ông. Công việc nghiên cứu vaccin chống sốt rét ngừng lại sau cái chết của GS.

      Đoàn nghiên cứu vaccin chống sốt rét được lệnh trở ra Miền Bắc. Bộ Y tế cũng không có chủ trương tiếp tục công trình dang dở này. Công việc chống sốt rét cho bộ đội chủ yếu vẫn tiếp tục như cũ là phòng chống muỗi và sử dụng các thuốc Tây dược như Cloroquine, Quinine, Paludrine, Quinaquine…

      Về chuyện thuốc Artemisinin của bà Đồ U U cứu chữa cho bộ đội Việt Nam, bác sỹ Bửu khẳng định là không có. BS Bửu nói: "Nếu bên dược có nhập Artemisinin của Trung Quốc về để điều trị cho bộ đội và nhân dân thì Viện Sốt rét phải là nơi được thông báo đầu tiên để kiểm định trước khi đem ra dùng". Nhưng theo bác sỹ Bửu điều đó đã không xảy ra.

      Đến năm 1980 thì ta cũng đã sản xuất được Artemisinin từ cây Thanh hao hoa vàng mọc ở biên giới phía Bắc Việt Nam giống như thứ thuốc mà bà Đồ U U vừa nhận được giải Nobel về Y học năm 2015.

      Đó là tất cả những gì tôi biết được về công cuộc chống sốt rét ở nước ta trong những năm 60, 70 thế kỷ trước và những công việc mà cha tôi đã làm trước khi ông hy sinh.

      Ngày 11/10/2015, tôi nhận được một bức thư của GS Vũ Đức Vượng, một người bạn thân gửi từ San Fransisco với nội dung như sau:

      Anh Minh thân mến!

      Đọc báo, thấy tin bà bác sỹ TQ được giải Nobel làm tôi nhớ đến ông cụ anh cũng vào rừng nghiên cứu vaccin cho bộ đội cụ Hồ ngày nào. Tôi suy nghĩ nhiều về cái tin này... Hôm nay lại thấy một bài nữa, và lần này bà Đồ U U cho biết là đã khởi sự công trình nghiên cứu thuốc chống sốt rét này từ năm 1969.

      Anh biết rõ về công việc của bác Ngữ hơn ai hết, và chắc có sẵn tư liệu, nên tôi muốn mời anh viết cho một bài để làm sáng tỏ vấn đề này.

      Không những để thế giới hiểu hơn về sự nghiệp bác Ngữ, cũng như làm sáng tỏ liên hệ Việt-Trung gần nửa thế kỷ qua, và nhất là để những thế hệ về sau biết được sự thật của câu chuyện này.

      Cám ơn Giáo sư Vượng đã quan tâm đến một việc mà tôi cũng đang rất quan tâm. Tôi đã nhận lời với GS và đã gửi GS những dòng viết trên đây.
      Đặng Nhật Minh (đăng trên Dân Trí)
      P/s : Anh mở mắt cho cu Nỡm, đừng có ăn bã Tàu Khựa nữa !

      Delete
    2. Mở cái gì, chương trình đó của TQ nghiên cứu từ lâu, họ cũng đã công bố kết quả nghiên cứu trong hội thảo cùng với WHO về điều trị các bệnh nhiệt đới từ những năm 1980, cách đây 4 năm họ đã nhận được giải Lasker danh giá của Mỹ. Lý do tại sao Việt Nam không biết đến nghiên cứu của họ thì không rõ, nhưng họ không bịa ra được cả một quá trình như vậy đâu. Muốn mở mắt cho người khác thì phải học trước đã. À mà nói thêm là giải Nobel chính thức được trao rồi đấy, viết đơn kiện giải Nobel của họ đi.

      Delete
    3. Anh chê cu Nỡm là biết hóng hớt chuyện Đồ U U của Tàu Khựa, mà lại "không rõ trường hợp BS Đặng văn Ngữ"
      Kiểu biết của thằng cu, anh khinh !

      Delete
    4. Muốn khiêu khích thì cũng phải thông minh hơn chút nữa mới được.

      Delete
  3. Xã hội bây giờ cứ có cái hay của Trung Quốc thì lại lờ đi hoặc bôi nhọ, còn cái gì dù xấu của Mỹ cũng tôn sùng là tuyệt vời, là vĩ đại lắm! Hàng ngày cứ tự huênh hoang Việt Nam là nhất, vậy mà không chịu mở mắt ra xem Trung Quốc bên cạnh họ còn giỏi, còn chăm gấp mười. Cả nhân loại chỉ có ba nền văn minh cổ đại khai sinh ra triết học là Hy Lạp, Ấn Độ, và Trung Hoa, cả ba cùng vào thời kỳ đồ sắt thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Việt Nam lúc bấy giờ đang ở đâu, là gì? Vậy mà không biết hổ thẹn khi lúc nào cũng tự hào 4000 lịch sử sao? Chẳng phải ngẫu nhiên mà Cụ Hồ nói rằng: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em".

    Than ôi, lợi ích của giai cấp tư sản sẽ làm sụp đổ đất nước này mất thôi.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Hy lạp thì mắc nợ triền miên, Ấn độ thì cưỡng hiếp (thậm chí bé gái 2 tuổi), Trung quốc thì có truyền thống ăn hiếp láng giềng VN
      Còn cái chuyện "sánh vai" thì Bác cũng nói rõ là chỉ 1 phần (không biết là phần nhỏ hay lớn) ở "công học tập của các em. Còn một phần khác là ở chổ khác, Noob à !

      Delete
    2. Bu Mẽo của cu đứng đầu bảng thế giới về nợ nần, giết chóc, cưỡng hiếp, phân biệt chủng tộc, tù tội và truyền thống ăn hiếp không chỉ láng giềng đâu, ghớm Việt Nam cách xa nửa vòng trái đất còn đem quân sang đánh được, bị đập cho tơi tả thì lại quay qua cấm vận ăn vạ người ta hết hai chục năm. Sao không kể hết cho công bằng nhỉ? Chỉ biết hóng hớt chuyện Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc mà không biết chuyện Việt Nam đánh Mỹ, anh khinh.

      Delete
    3. Đất nước này chỉ sụp đổ khi giai cấp vô sản ngừng đấu tranh.

      Delete