Showing posts with label Xã hội. Show all posts
Showing posts with label Xã hội. Show all posts

Saturday, November 2, 2019

Sức lao động và lao động

Kéo dài thời gian làm thêm đang là vấn đề thời sự nóng bỏng ở Việt Nam. Về bản chất, việc kéo dài thời gian làm thêm chỉ là kéo dài thời gian lao động của công nhân.

Bản chất vấn đề

Người ta không sẽ không thể hiểu rõ được vấn đề này nếu không trả lời câu hỏi: Nhà tư bản mua cái gì của công nhân, lao động hay sức lao động?

Chủ doanh nghiệp thì luôn khẳng định rằng: Họ mua lao động của công nhân. Công nhân làm bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu. Không ai bóc lột ai cả. Sở dĩ phải kéo dài thời gian làm việc là bởi vì công nhân năng suất thấp, muốn làm nhiều giờ hơn để có thu nhập cao hơn. Lợi nhuận của tư bản là do tư bản sinh ra vậy nên nếu muốn họ có thể dùng máy móc thay thế hoàn toàn công nhân mà vẫn có lợi nhuận.

Công nhân thì trả lời rằng: Họ bán sức lao động, không bán lao động. Lao động là sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất mà tư liệu sản xuất nằm trong tay giới chủ. Nếu không bán sức lao động cho giới chủ thì sức lao động của công nhân không có cách nào kết hợp được với tư liệu sản xuất. Nhưng cũng từ đó thì nảy sinh vấn đề, giá trị của sức lao động và giá trị do lao động tạo ra là hai thứ khác nhau. Nhà tư bản có được lợi nhuận là từ việc bóc lột lao động làm thuê. Việc kéo dài thời gian lao động là để gia tăng lợi nhuận cho tư bản chứ không phải làm tăng thu nhập cho công nhân.

Một ví dụ đơn giản cho vấn đề này:  Người công nhân cần 100 đồng mỗi ngày để nuôi sống bản thân, nhưng điều đó không có nghĩa là mỗi ngày anh ta chỉ làm ra 100 đồng. Nếu nhà tư bản thuê anh ta 100 đồng và anh ta chỉ làm ra đúng 100 đồng thì lợi nhuận ở đâu ra? Nên điều đó có nghĩa là công nhân phải làm ra 200 đồng hoặc nhiều hơn nữa, một phần để bù đắp lại sức lao động của anh ta, một phần trở thành lợi nhuận của nhà tư bản.

Điều này sẽ tiết lộ cái bí mật mà nhà tư bản che giấu. Ngày lao động của công nhân được chia làm hai phần, một phần bù đắp lại sức lao động đã bỏ ra của anh ta và một phần tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản. Cái mà nhà tư bản muốn không phải là lao động của công nhân mà là lợi nhuận nên họ phải tìm cách kéo dài mãi cái phần lao động không công kia ra.

Vào buổi bình minh của chế độ tư bản, chủ doanh nghiệp tăng lợi nhuận bằng cách kéo dài một cách điên cuồng ngày lao động của công nhân. Ví dụ, một ngày lao động có 8 giờ thì người công nhân chỉ cần làm 2h là đủ bù đắp tiền công, còn lại 6 giờ là làm không công tạo ra lợi nhuận. Chủ doanh nghiệp muốn có thêm lợi nhuận thì họ kéo dài ngày lao động thành 10 tiếng, 12 tiếng hay 14 tiếng. Nhưng việc bóc lột công nhân bằng cách kéo dài thời gian lao động không thể duy trì mãi, nó vấp phải giới hạn sinh học của con người, nên sau đó giới chủ doanh nghiệp phải nghĩ ra cách khác, đấy là vẫn trong giới hạn 8 tiếng một ngày thì đẩy cái thời gian lao động cần thiết để bù đắp lại tiền công thấp xuống, từ 2 tiếng xuống còn 1 tiếng, thậm chí 30 phút, điều này được thực hiện nhờ việc sử dụng máy móc và áp dụng công nghệ tự động hóa trên quy mô lớn. Điều này có nghĩa là việc sử dụng máy móc một mặt giảm số lượng công nhân được thuê xuống nhưng lại bắt số công nhân được thuê phải làm việc nhiều hơn với cường độ cao hơn. Tuy vậy, việc giới hạn giờ lao động trên thực tế không ở đâu và không bao giờ do giai cấp tư sản tự nguyện áp dụng, bất chấp mọi lợi ích, mà chỉ được áp dụng một cách phổ biến dưới sự đấu tranh dữ dội của công nhân. Vậy nên có thể nói rằng chính sự đấu tranh của công nhân mới thúc đẩy quá trình hiện đại hóa của chủ nghĩa tư bản.

Quay lại ví dụ ở trên, nếu mỗi công nhân làm ngày 8 tiếng và nhận được 100 đồng thì tiền lương theo giờ của họ là 12.5 đồng. Giờ lao động được tăng lên 10 tiếng mỗi ngày thì tiền lương theo giờ của công nhân sẽ chỉ còn 10 đồng. Sở dĩ có điều này là vì tiền lương trả cho sức lao động chứ không phải lao động, giá trị của sức lao động là cố định và được tạo ra trước khi ném vào quá trình sản xuất. Theo quy luật kinh tế thị trường, nhà tư bản mua sức lao động đúng với giá trị của nó chứ không mua cao hơn hay thấp hơn cái giá trị đó. Cái lập luận công nhân có năng suất lao động thấp nên cần làm thêm để cải thiện thu nhập của giới chủ thực ra là chỉ để cải thiện cái túi tiền của chính họ mà thôi. Việc giảm tiền lương theo giờ (hoặc theo sản phẩm) của công nhân xuống có ý nghĩa rất quan trọng đối với những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, họ có sẽ có được lợi nhuận cao hơn và cạnh tranh được với các doanh nghiệp sử dụng tự động hóa. Ngược lại đối với công nhân có nghĩa là họ phải làm việc nhiều hơn, mất đi nhiều thời gian của bản thân để kiếm sống.

Lập luận của giới chủ cho rằng cần kéo dài giờ làm giúp giới chủ tích lũy tư bản để ứng dụng công nghệ, hiện đại hóa sản xuất là hoàn toàn vô nghĩa. Chừng nào họ còn kéo dài được thời gian lao động của công nhân thì không có lý do gì họ phải đưa máy móc vào thay thế công nhân cả, ngay cả khi họ đủ điều kiện để làm việc đó. Ngược lại họ chỉ làm điều đó khi đối mặt với việc giờ lao động của công nhân bị giới hạn một cách cưỡng bức. Ngay cả các nhà kinh tế học tư sản, những nô lệ trung thành nhất của chủ doanh nghiệp, cũng thừa nhận điều này trong cái phân tích hoa mỹ về đánh đổi giữa công nhân và máy móc khi tiền lương thay đổi.

Sự tha hóa của người lao động

Khi công nhân bán sức lao động cho nhà tư bản thì sức lao động của họ trở thành một vật thuộc sở hữu của nhà tư bản. Nhà tư bản sở hữu những thứ mà tư bản mua được. Họ đem chúng kết hợp lại trong quá trình sản xuất mà họ là chủ sở hữu, là chỉ huy tối cao. Vậy nên trong quá trình sản xuất thì công nhân phải từ bỏ lý tính của mình, họ không còn được tư duy nữa, họ chỉ là một cái máy như mọi cái máy khác, hoạt động theo mệnh lệnh của nhà tư bản. Trong quá trình sản xuất thì chỉ có nhà tư bản là con người, là kẻ có tư duy và ra mọi quyết định đối với những thứ thuộc sở hữu của mình. Vậy nên một mặt công nhân với tư cách là con người phải có lý tính, mặt khác họ phải trở thành vật vô tri trong quá trình sản xuất. Do vậy, lý tính của công nhân khi xuất hiện bao giờ cũng thể hiện ra là sự chống lại cái quá trình biến họ thành vật vô tri. Dưới con mắt của nhà tư bản, chỉ huy tối cao của quá trình sản xuất, thì đó là sự ngu dốt, sự nổi loạn, một tội ác không thể tha thứ. Vấn đề này chỉ có thể hiểu được nếu xuất phát từ thực tế là công nhân bán sức lao động, còn nếu giả định là công nhân bán lao động, tức là họ còn tư duy và làm chủ quá trình lao động, thì không bao giờ có thể hiểu được điều này.

Sự ngu dốt của công nhân trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản phẩm của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, không thể nào xóa bỏ nó chừng nào không xóa bỏ cái quan hệ sản xuất ấy. Mọi lập luận cho rằng công nhân cần phải học tập nhà tư bản để xóa bỏ quan hệ lao động làm thuê đều dựa trên giả định công nhân bán lao động, tức là lập luận của giới chủ, và do đó phục vụ cho giới chủ doanh nghiệp.


Kết luận


Các lập luận của giới chủ đòi tăng giờ làm thêm của công nhân, một cách nói mỹ miều cho việc kéo dài thời gian lao động, trái với những tô vẽ của họ, đều chỉ nhằm mục đích giảm tiền lương theo giờ hoặc theo sản phẩm của công nhân, để gia tăng lợi nhuận. Mặt khác quá trình này cũng chống lại việc hiện đại hóa và áp dụng máy móc vào sản xuất, bởi vì việc hiện đại hóa bao giờ cũng phải bắt đầu bằng việc hạn chế số giờ lao động hàng ngày của công nhân.

Đối với công nhân việc kéo dài thời gian lao động có nghĩa là kéo lùi mọi tiến bộ xã hội. Họ phải làm việc nhiều giờ hơn để kiếm sống, có nghĩa là ít thời gian hơn để chăm sóc cho bản thân và gia đình. Họ sẽ không có thời gian để học hành, tức là không thể tiến bộ được. Họ sẽ không chăm sóc được cho gia đình, có nghĩa là những cặp đôi chung sống tạm bợ với nhau sẽ tăng lên, gây ra những hậu quả nặng nề về mặt xã hội. Họ sẽ không có thời gian chăm sóc con cái, điều này có nghĩa là họ sẽ không sinh đẻ nữa hoặc con cái của họ sẽ được gửi vào các nhà ngục trẻ em đang mọc lên như nấm quanh các khu công nhân. Sự giàu có của chủ nghĩa tư bản gắn liền với sự bần cùng của giai cấp vô sản, hay nói cách khác sự bần cùng của giai cấp vô sản là cái nguồn tạo ra của cải cho chủ nghĩa tư bản. Đây mới là điều cần phải chấm dứt.

Sunday, June 9, 2019

Đạo Tin Lành và Sự Phát Triển Của Chủ Nghĩa Tư Bản

Lâu rồi, mình xem blog của bác Giao, thấy bác ấy có đặt vấn đề cho mình về quan hệ giữa đạo Tin Lành và chủ nghĩa tư bản, ngay sau khi nhắc đến trường hợp có nhiều người phát điên vì học tinh thần chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản vào thời kỳ Minh Trị. Nhưng sau đấy mình bị tư bản nó hành, chạy dự án tối tăm mặt mũi, chả thời gian đâu viết lách nên quên bẵng mất vấn đề đó. Hôm nay, nhân dịp đọc lại cuốn "Libery and Property" của Ellen M. Wood, cũng có nhắc đến vấn đề đó, mới chợt nhớ ra câu hỏi của bác Giao, nên viết vài dòng để gửi bác Giao.

Nước Nhật Bản thời Mạc Phủ du nhập đạo Tin Lành nhưng lại cấm Cơ Đốc Giáo, giới quý tộc Nhật Bản lúc đó đều chỉ làm ăn với người Hà Lan theo Tin Lành mà cấm cửa người Tây Ban Nha Thiên Chúa Giáo, cho dù người Tây Ban Nha đến Nhật Bản truyền đạo rất sớm. Sở dĩ vậy nên Fukuzawa ban đầu cũng học tiếng Hà Lan chứ không phải tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha. Sau đó, Mạc Phủ bị các đế quốc đưa tàu chiến đến đe dọa, buộc phải mở cửa cho họ làm buôn bán. Ban đầu giới quý tộc phản đối Mạc Phủ hèn nhát, bán đứng Nhật Bản cho đế quốc, quay sang ủng hộ Nhật Hoàng, đánh bại Mạc Phủ, nhưng sau khi nắm được chính quyền thì Nhật Hoàng và giới quý tộc ngay lập tức áp dụng chính sách của Mạc Phủ, đó là mở cửa cho phương Tây. Đây chính là lúc ông Fukuzawa mang cái vốn tiếng Hà Lan lơ ngơ ra tỉnh thì thấy toàn biển hiệu tiếng Anh, đọc chả hiểu gì, vì thế nên ông ấy mới đi học tiếng Anh để tiếp tục sự nghiệp khai hóa văn minh cho dân Nhật Bản.

Để làm rõ mối quan hệ giữa đạo Tin Lành và chủ nghĩa tư bản thì chúng ta cần phải làm rõ nguồn gốc của đạo Tin Lành và đặc trưng của chủ nghĩa tư bản, từ đó mới có thể trình bày được mối quan hệ của chúng.

1. Nguồn gốc của đạo Tin Lành

Đạo Tin Lành có hai nhánh là Calvin và Luther, nhánh Calvin sau này được du nhập vào Anh trở thành Anh Giáo và Thanh Giáo, còn nhánh Luther chủ yếu phát triển ở các tiểu quốc Đức.

Vào lúc đạo Tin Lành ra đời, các thành thị tự do tồn tại nhờ đặc quyền thương mại ở Đức bắt đầu đi vào giai đoạn suy tàn. Giới quý tộc thành thị không còn tham gia vào các hoạt động thương mại nữa mà sống nhờ vào thuế khóa mà thị dân và thương nhân đóng góp. Giới quý tộc thành thị cũng không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhà nước nữa, công việc này do tầng lớp viên chức dân sự (civil magistrate) đảm nhiệm. Các viên chức dân sự vừa phải làm nhiệm vụ cai quản thành thị, giải quyết xung đột giữa thị dân và quý tộc, vừa phải bảo vệ sự độc lập của thành thị trước sự nhòm ngó của các vua chúa với quân đội trong tay. 

Kẻ thù chủ yếu của giới viên chức dân sự không đến từ công việc của họ, trái lại là nhà thờ. Nhà thờ cũng đang bước vào giai đoạn suy tàn, trở nên tham lam cùng cực, tìm mọi cách bóp nặn dân chúng, điển hình là câu chuyện về ông tổng giám mục ở giáo phận của Luther, nộp tiền cho Giáo Hoàng để được cai quản hai giáo phận và sau đó đem bán sự chuộc tội như bán rau cho giới quý tộc và thường dân để kiếm tiền bù lại. Một mặt sự tham lam của nhà thờ khiến cho dân chúng căm ghét, mặt khác gây ra những tổn thất cho nguồn thu của chính quyền dân sự, mà những người trực tiếp phải gánh chịu là viên chức dân sự. Do vậy, các viên chức dân sự luôn tìm mọi cách loại bỏ quyền lực của Giáo Hội trong địa phận của mình.

Mâu thuẫn giữa Giáo Hội và các vua chúa Đức lên đến đỉnh điểm khi vua Tây Ban Nha Thiên Chúa Giáo trở thành hoàng đế La Mã Thần Thánh không cho phép các tiểu quốc Đức bầu ra vua của họ. Các vua chúa Đức quay sang liên minh với các thành thị tự do để chống lại hoàng đế La Mã Thần Thánh, học thuyết Tin Lành nhanh chóng được áp dụng. Đặc trưng của học thuyết Tin Lành lúc này là:

Thứ nhất, phủ nhận thẩm quyền chuộc tội của Giáo Hội, coi mọi người dân đều là giáo sĩ, đều có quyền đọc kinh thánh và tạo dựng công đức để được Chúa Trời xá tội vào ngày phán xét.

Thứ hai, công nhận quyền lực thế tục của nhà nước, coi viên chức nhà nước là đại diện cho Chúa Trời trên trần thế. Người dân phải tuân lệnh của các viên chức nhà nước để tạo dựng công đức thay vì tuân lệnh Nhà Thờ.

Như vậy, đạo Tin Lành bắt nguồn từ những xung đột của xã hội tiền tư bản chủ nghĩa và phục vụ cho xã hội tiền tư bản. Giới viên chức dân sự sử dụng nó để bảo vệ cho sự độc lập của thành thị tự do và biện minh cho quyền nổi loạn vũ trang chống lại vua chúa. Giới thị dân sử dụng nó để chống lại giới thượng lưu thành thị. Giới thượng lưu thành thị cũng sử dụng nó để củng cố quyền lực chống lại sự đe dọa của thị dân. Vua chúa sử dụng nó để chống lại quyền lực của Nhà Thờ vốn là chỗ dựa của đế quốc La Mã. 

Mặc dù đạo Tin Lành có đề cập tới 'đạo đức lao động' và việc giải phóng thương mại khỏi các kìm hãm của thời phong kiến. Song có hai điều bị bỏ qua trong vấn đề này. Thứ nhất, đạo Tin Lành không bao giờ giải thích được tại sao lao động lại đồng nhất với lợi nhuận. Thứ hai, thương mại thời tiền tư bản dựa trên nguyên lý 'mua rẻ bán đắt' tức là đặc quyền buôn bán giữa các thị trường phân tán, không liên quan gì đến động lực thị trường của chủ nghĩa tư bản, vốn dựa trên cạnh tranh bằng năng suất lao động trên một thị trường thống nhất, nên tinh thần vì lợi nhuận của nó cũng hoàn toàn khác với tinh thần vì lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản, đạo Tin Lành cũng không giải thích được tại sao có sự biến đổi từ thương mại thời phong kiến sang thương mại thời tư bản, khác nhau hoàn toàn về chất.

2. Đặc trưng của chủ nghĩa tư bản

Đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là sự cưỡng bức của thị trường đối với nhà tư bản, họ buộc phải mua bán để tìm kiếm lợi nhuận bất kể họ muốn gì và tham lam ra sao, nhưng lợi nhuận này không phải đến từ việc mua rẻ bán đắt, mà ngược lại đến từ sự tiết kiệm lao động thông qua việc không ngừng nâng cao lao suất lao động. Mặt khác, người lao động bị tước hết các tư liệu sản xuất và sinh hoạt, buộc phải bán sức lao động và mua tư liệu sinh hoạt trên thị trường. Đây là những thứ hoàn toàn xa lạ, chưa từng có tiền lệ trong các xã hội trước đó. Các xã hội tiền tư bản luôn dựa trên tiền đề là người lao động bị cột chặt vào tư liệu sản xuất. Giới quý tộc bóc lột người lao động thông qua việc nắm giữ các chức năng nhà nước và được hưởng phần sản phẩm thặng dư mà người lao động đã tạo ra, hay nói cách khác, sự bóc lột kinh tế tiền tư bản gắn liền với chức năng nhà nước.

3. Mối quan hệ giữa đạo Tin Lành và chủ nghĩa tư bản

Các học giả phương Tây nổi tiếng như Max Weber và R. H. Tawney đều cho rằng đạo đức Tin Lành là phù hợp với chủ nghĩa tư bản, do vậy đạo Tin Lành đã thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điểm mấu chốt trong lập luận của họ là giả định rằng chủ nghĩa tư bản là sự phát triển của thương mại, một hoạt động kinh tế có từ thời tiền sử, và gắn liền với thương mại là sự giải phóng các đô thị tự do. Hay nói cách khác chủ nghĩa tư bản đã luôn tồn tại trong xã hội loài người, nó chỉ bị các cản trở của xã hội kìm hãm và khi được giải phóng, nó nhanh chóng phát triển thành một hình thái kinh tế hoàn chỉnh. Đạo Tin Lành khuyến khích 'đạo đức lao động' và tinh thần tìm kiếm lợi nhuận, xóa bỏ thái độ coi thường của cải của Cơ Đốc Giáo, do vậy phù hợp với chủ nghĩa tư bản và tạo ra động lực giúp chủ nghĩa tư bản phát triển. 

Song thương mại thời tiền tư bản không hề mang tính tư bản chủ nghĩa, trái lại nó mang tính phong kiến và dựa trên các đặc quyền phong kiến. Các đô thị thương mại phát triển nhất thời phong kiến của Châu Âu không bao giờ phát triển thành các đô thị tư bản chủ nghĩa, trái lại chủ nghĩa tư bản lại ra đời ở vùng nông thôn nước Anh. Thời phong kiến hoàn toàn không có những động lực cưỡng bức của chủ nghĩa tư bản và do đó đạo Tin Lành bảo vệ cho những nguyên lý chống lại chủ nghĩa tư bản.

4. Tại sao các học giả lại cho rằng đạo Tin Lành thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản?

Hình ảnh minh họa: Sự thần thánh của một viên chức chính quyền thời đại tư bản. Ông ta đứng trên đầu bốn người dân đại diện cho bốn nhóm thuộc địa của mẫu quốc.
Nguồn: Internet
Sau khi chủ nghĩa tư bản ra đời ở nông thôn nước Anh bằng cách tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân, bắt họ trở thành công nhân làm thuê, thì chủ nghĩa tư bản nhanh chóng lan ra khắp Châu Âu. Đồng thời tư bản Anh cũng phá bỏ luôn điều kiện để các nước khác tư bản hóa, đó là việc tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân. Vào lúc này giai cấp quý tộc đã suy yếu, buộc phải dựa vào nhà nước để tồn tại, việc tước đoạt nông dân sẽ đụng đến cơ sở kinh tế của nhà nước, đồng thời họ lại phải nhanh chóng tư sản hóa trong điều kiện đối mặt với sự canh tranh khốc liệt từ tư bản Anh. Các nước Châu Âu lục địa bước vào thời kỳ hiện đại với một kế sách duy nhất là kết hợp giữa nhà nước chuyên chế và chủ nghĩa tư bản. Các viên chức dân sự trở nên quyền lực hơn bao giờ hết, họ trở thành đại diện cho nhà nước trong mối quan hệ với dân chúng, họ có thẩm quyền quyết định sinh mạng của cả dân thường lẫn các nhà tư bản cá thể, họ đứng trên cả quý tộc lẫn giáo sĩ. Đây chính là lúc đạo Tin Lành phát huy sự thần thánh của bản thân. Vòng hào quang của Chúa Trời rời bỏ các tu sĩ Thiên Chúa Giáo béo múp để đến ngự trị trên đầu của các viên chức dân sự. Sự tuân thủ nhà cầm quyền thế tục đảm bảo cho công tích chuộc tội của con chiên. Nhà nước trở thành giáo hội mà không cần phải truyền giáo. Viên chức nhà nước trở thành giáo sĩ mà không cần phải viện dẫn Kinh Thánh. Tóm lại, không phải sự phát triển của chủ nghĩa tư bản định hình cho đạo Tin Lành hay ngược lại, mà chính là nhà nước chuyên chế đã định hình cho những giá trị của đạo Tin Lành, đem nó vào kết hợp với chủ nghĩa tư bản. Giới học giả bảo vệ cho quan điểm đạo Tin Lành thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thực ra là để biện minh cho vai trò của nhà nước chuyên chế trong việc nâng đỡ chủ nghĩa tư bản.

Saturday, May 18, 2019

Tư duy biện chứng để làm gì?

Dạo nhà thờ Đức Bà Paris bị cháy trụi, bên cạnh đám me Tây khóc than ầm ĩ cho nước Pháp thực dân thì cũng có một số người nhân dịp ấy mới nói rằng:
- Ngày xưa nước Pháp đi xâm lược thuộc địa, cướp bóc đốt phá không biết bao nhiêu chùa chiền miếu mạo, giờ là quả báo thôi, có gì mà phải than khóc. Pháp cũng đốt bảo nhiêu chùa chiền ở Việt Nam mà có đứa me Tây nào chịu khóc đâu.

Một hôm nọ, có vị giáo sư khoa Triết học mới dạy dỗ quần chúng ngu lâu mãi không chịu hiểu rằng:
- Họ nói vậy là sai, sai vì họ không có tư duy biện chứng. Thứ nhất, cái nhà thờ ấy là tài sản nhân loại, không phải chỉ riêng của người Pháp. Thứ hai, chúng ta có thù với chính quyền thực dân Pháp chứ không phải người dân Pháp. Thế nên khi cái nhà thờ ấy cháy thì ta phải tỏ lòng thương tiếc, không được tỏ thái độ vui mừng như vậy.

Phải tư duy biện chứng theo kiểu như vậy thì khác gì khổ dâm?
Bây giờ cứ thử hỏi vị giáo sư khoa Triết học ấy rằng nếu cái nhà thờ ấy là cái chùa to nhất Việt Nam và vị giáo sư của chúng ta là người Pháp thì đức ngài tôn quý ấy sẽ nói sao?  Chắc chắn đức ngài biện chứng của chúng ta sẽ hét lên sung sướng rằng: Đúng rồi, hãy đốt ra tro đám tà đạo đó đi, hãy dựng lên nhà thờ mới của Đức Chúa Trời Gô Loa! 

Nghe chuyện đến đây chắc hẳn sẽ có người bỉ bôi cái thằng tôi rằng: Thật là loại ếch ngồi đáy giếng, biết gì về 'Hai nguyên lý, ba quy luật và sáu cặp phạm trù mà chê ngài giáo sư Triết học?

Đã chót thì phải chét vậy, tôi đành mổ xẻ cái xảo thuật của món Triết học này cho rõ. Vốn là giáo sư của chúng ta khi đả phá quan niệm bị coi là sai trái kia thì ngài ấy không nghiên cứu nó đến nơi đến chốn, tìm hiểu cơ sở xã hội của nó mà dùng phép logic hình thức để phủ nhận. Bởi vì bắt đầu bằng một quan niệm trừu tượng, không gắn liền với cơ sở xã hội đã sinh ra nó nên giáo sư khoa của chúng ta buộc phải sử dụng đến 'bù nhìn rơm', đây là một xảo thuật phổ biến trong tranh biện. 'Bù nhìn rơm' ở đây là 'tài sản nhân loại', bằng từ 'tài sản nhân loại' thì ngài đã gán cho người Pháp, người Việt và đủ các loại người nói chung quyền lợi và trách nhiệm với cái nhà thờ ấy, đáng lẽ ngài phải chứng minh điều này, nhưng chứng minh cái này thì ngài sẽ hớ nặng, vì không có thứ quyền lợi và trách nhiệm nào như vậy tồn tại cả. Nếu có me Tây nào đó ở Việt Nam vì hết lòng với nước mẹ tuyên bố cái nhà thờ là tài sản nhân loại và me Tây sẽ có quyền bán vé kiếm tiền ở đó thì nước mẹ Đại Pháp sẽ vả cho me Tây ấy không còn cái răng nào. Vậy nên câu thứ nhất của giáo sư là vô nghĩa hoàn toàn, đó là lối nói trùng lắp để khẳng định cái mà ngài đã giả định. Câu thứ hai của giáo sư cũng tiếp tục với xảo thuật ấy, nhân dân cũng là một cái bù nhìn rơm, theo truyền thống chính trị học phương tây người ta thường dùng nhân dân để nhét đủ thứ phi lý thậm chí mâu thuẫn nhau vào đó. Ở đây ngài giáo sư của chúng ta giả định là nhân dân Pháp đang đau buồn vì cái nhà thờ đó bị cháy rụi, mặc dù về mặt triết học đó chính là điều mà ngài phải chứng minh. Nhân dân Pháp có bao gồm đám vui sướng hay thờ ơ vì cái nhà thờ đó cháy không? Ngài giáo sư của chúng ta sẽ tuyên bố rằng đám người Pháp đó không phải là nhân dân Pháp. Thế là một mặt ngài giáo sư bắt toàn bộ dân Pháp phải khóc than cho cái nhà thờ bị cháy và mặt kia bắt dân Việt Nam phải khóc than theo vì dân Pháp đang khóc.

Những chuyện tào lao kiểu này giờ đầy rẫy trên mạng xã hội, người ta nói xuôi hay nói ngược cũng được. Ai cũng tỏ ra là mình đúng, mình là chân lý.

Vậy thì tư duy biện chứng hay không là ở cách người ta chỉ ra cái khuôn khổ xã hội đã sinh ra những quan niệm phủ nhận nhau mà chả ảnh hưởng gì đến nhau, chứ không phải ở chỗ dùng quan niệm này bác bỏ quan niệm kia. Sở dĩ những quan niệm phủ nhận nhau cùng tồn tại được trên truyền thông, va chạm nhau chan chát mà không ai bị sứt mẻ tí gì là bởi vì truyền thông đã trở nên độc lập với tương đối với xã hội.

Kinh tế thị trường là sự tách rời giữa chức năng chính trị và chức năng kinh tế. Truyền thông không còn là chính trị nữa, nó hướng vào việc đưa tin và kiếm tiền từ quảng cáo cho doanh nghiệp. Vậy nên nó phải đưa càng nhiều tin càng tốt, thứ hút được càng nhiều người theo dõi càng tốt. Điều đó làm cho truyền thông mất đi sự cấp tiến và đặc tính chính trị, bị tách rời khỏi bộ máy chính trị. Một mặt, nó chỉ đóng vai trò truyền tải tin tức, ai đó sẽ lựa chọn và làm việc cần phải làm. Mặt khác, do kinh tế thị trường dựa trên các cá nhân đơn lẻ tự do cạnh tranh với nhau trong việc mua bán hàng hóa, điều đó phản ánh vào truyền thông thành các quan niệm xung đột, có khuynh hướng phủ nhận lẫn nhau, nhưng truyền thông không thể từ bỏ cái cơ sở kinh tế ấy được, nó buộc phải tạo ra một cơ chế cho các quan niệm phủ nhận lẫn nhau ấy cùng tồn tại. Từ đó, trên truyền thông hình thành một lớp người chuyên đại diện cho các quan niệm xung đột nhau, họ đánh trận giả với nhau, thu hút sự chú ý của công chúng và giải trí cho công chúng bằng cách dùng các xảo thuật để tấn công nhau, không ngừng tạo ra các làn sóng công luận theo hướng này hoặc hướng kia.
Đấy là cách mà truyền thông tạo ra công luận, tạo ra những quan niệm phủ nhận lẫn nhau. Ngài giáo sư của chúng ta là một sản phẩm của hệ thống ấy, ngài tưởng rằng mình đang dạy dỗ công chúng về tư duy biện chứng nhưng thực ra chỉ lải nhải lặp đi lặp lại những gì mà truyền thông muốn. Nếu gặp may, ngài giáo sư sẽ tạo thành một làn sóng công luận, ngài sẽ kiếm được nhiều con nhang, đệ tử, tiền bạc và danh tiếng. Nếu không thì ngài cũng chẳng tốn gì ngoài mớ nước bọt giá rẻ, việc đầu tư cho phép biện chứng của ngài cũng chẳng tốn kém gì nhiều hơn trong khi chờ đợi những đợt sóng công luận khác.

Những người cộng sản hay những cộng đồng có tính cộng sản nguyên thủy xưa kia họ xử lý những sự xung đột này thế nào? Rất đơn giản, họ tập hợp những người đại diện cho những quan điểm phủ nhận nhau lại, mời các quý ngài trình bày, tranh luận thoải mái, cuối cùng tất cả cộng đồng biểu quyết để chốt lại một cái, tất cả sẽ phải tuân thủ theo quan điểm đã được lựa chọn ấy, bất kể trước đó theo quan điểm nào. Ai nói khác thì xử phạt nghiêm khắc. Thế nhưng đó lại là điều không bao giờ ngài giáo sư của chúng ta muốn, nhân danh phép biện chứng, triệu lần không, bởi vì đặc quyền tư duy biện chứng của ngài sẽ trở thành món đồ cổ mất giá thảm hại khi đám dân đen ngu dốt thất học được quyền quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai.

Sunday, May 5, 2019

Ảo mộng nhà nước phúc lợi

Một dạo ở Việt Nam người ta hết lời ca ngợi mấy nước tư bản ở Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch), gọi đó là thiên đường nhân văn vì nhà nước đứng ra chăm lo bao cấp hết các dịch vụ cơ bản cho người dân. Thậm chí cách đây hai năm, khi Phần Lan thử nghiệm việc cấp thẳng tiền trợ cấp cho người thất nghiệp thì một làn sóng dư luận như lên đồng, gọi đó là chủ nghĩa xã hội, mà kỳ thực Phần Lan làm điều đó để giảm thâm hụt ngân sách nhưng không thành công và đã lặng lẽ chấm dứt vào đầu năm 2019, tất nhiên lúc này thì hầu hết người ta đã quên mình nói gì hai năm trước.

Mô hình nhà nước phúc lợi thành công nhất ở Châu Âu không phải là các nước Bắc Âu mà là nước Đức. Đức không chỉ là nước tiên phong trong mô hình nhà nước phúc lợi mà còn thành công hơn hẳn các nước Bắc Âu, trở thành nền kinh tế lớn nhất Châu Âu và là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới hiện nay. Các nước Bắc Âu đều chịu ảnh hưởng và áp dụng mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đức, họ chỉ phát triển mạnh lên vào khoảng 30 năm sau Đại Chiến Thế Giới II, khi nước Đức đã thua trận, nhưng sau đó họ bị cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 đánh gục, nền kinh tế của họ chìm đắm trong trì trệ. Sở dĩ người ta lờ tịt nước Đức đi vì Đức đã cho thấy đỉnh cao của nhà nước phúc lợi là chế độ phát xít. Sau khi bại trận thì sự khôn ngoan, tính kỷ luật vẫn được cả tụng của người Đức không cứu được nước Đức, sự thần kỳ đến từ một tầng lớp nô lệ lao động mới, đó là Gastarbeiter, công nhân nhập cư nhưng không có quyền công dân.

Tôi thường nghe thấy một câu hỏi từ tầng lớp công nhân cổ trắng có thu nhập cao: Tại sao nước ta không áp dụng việc đánh thuế thu nhập thật cao và lấy tiền ấy chi trả cao hơn cho bảo hiểm thất nghiệp, an sinh xã hội như mấy nước Châu Âu? Nói một cách ngắn gọn, tầng lớp công nhân cổ trắng mong muốn mô hình đó, họ sợ phải thất nghiệp, sợ phải sống đời sống bấp bênh khi không có khoản thu nhập cố định.

Mọi việc đơn giản, chỉ cần muốn là làm được liền, chẳng qua là chế độ này toàn lũ tham quan vô lại đốt nát, chỉ muốn ăn không muốn làm nên không chịu làm thôi, nhiều người sẽ nói vậy.

Tốt thôi, chúng ta sẽ bắt tay vào việc. Đầu tiên, anh bị thất nghiệp và muốn có bảo hiểm thất nghiệp, vậy chúng tôi phải chắc chắn là anh thất nghiệp thật sự và không có nguồn thu nhập nào khác để sinh sống. Chúng tôi sẽ tổ chức một bộ máy nhà nước khổng lồ để thu thập và theo dõi thu nhập của anh, của bố mẹ, anh em, cũng như vợ con anh, để đảm bảo rằng anh thực sự không có nguồn thu nhập nào khác. Sau nữa, anh không có thu nhập nhưng vẫn cần chỗ ở, cần được chăm sóc y tế. Chúng tôi đều sẽ chỉ trả cho những thứ đó và để đảm bảo rằng tiền ngân sách không bị lãng phí thì chúng tôi sẽ cần một bộ máy nhà nước khổng lồ khác để thẩm định, đặt hàng và trực tiếp thanh toán luôn, chúng tôi cho rằng nguy cơ không chỉ có anh sẽ phung phí khoản tiền ngân sách ít ỏi mà các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cũng sẽ tìm cách moi tiền từ túi anh, vậy tốt hơn hết là chúng tôi sẽ kiểm soát chặt chẽ tất cả. Còn việc của anh là hãy tuân thủ tốt mọi luật lệ, hãy cho chúng tôi thấy rằng anh là đối tượng phù hợp.

Nhà nước phúc lợi trước hết là một bộ máy hành chính quan liêu khổng lồ, giám sát toàn bộ đời sống của dân chúng. Nếu như ngân sách chi cho người dân một đồng thì sẽ phải chi đến chín đồng cho bộ máy quan liêu ấy. 'Lũ tham quan vô lại đốt nát' của xứ ta hóa ra lại có ích không ngờ, chúng không biết cách làm cho bộ máy hành chính phình ra khủng khiếp để mà kiếm chác.

Tiếp đó, vì anh phải đóng thuế thu nhập cao, nên khi đi làm anh sẽ có xu hướng đòi lương cao, để sau khi trừ thuế thu nhập rồi anh còn cầm tay được một khoản kha khá, mà các anh đâu có làm việc đó một mình, các anh tập hợp nhau thành công đoàn để mặc cả với giới chủ. Nếu để các anh tùy ý hành động thì tiền lương cao sẽ làm giảm lợi nhuận của giới chủ và tư bản sẽ trốn biệt khỏi xứ này. Do vậy, chúng tôi cũng sẽ phải kiểm soát các công đoàn, khống chế mức lương ở mức đảm bảo cho giới chủ có lợi nhuận hấp dẫn.

Nhà nước phúc lợi buộc phải nắm lấy công đoàn, khi đó công đoàn cũng bị quan liêu hóa. Lãnh đạo công đoàn trở thành một phần của giai cấp tư sản, phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản thay vì công nhân.

Tiếp nữa, không một quốc gia nào đủ sức nuôi sống một đạo quân thất nghiệp khổng lồ, do vậy nhà nước cần phải khuyến khích và can thiệp để cho doanh nghiệp làm ăn có lãi cũng như không ngừng mở rộng đầu tư vào những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, nhằm giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp. Tức là doanh nghiệp sẽ được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp thấp, các ông chủ doanh nghiệp mặc dù cũng bị đánh thuế thu nhập cá nhân cao như người lao động nhưng điều đó chẳng mảy may đụng chạm đến họ nhiều vì các khoản thu nhập của họ đều nằm dưới dạng phúc lợi do công ty thanh toán, được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp và không bị đánh thuế, hơn nữa các khoản lợi nhuận được đem tái đầu tư cũng hoàn toàn không bị đánh thuế. Một bộ máy nhà nước khổng lồ được dựng lên để phung phí ngân sách, công khai tài trợ cho chủ doanh nghiệp trực tiếp cũng như gián tiếp mà hiệu quả của chúng không bao giờ minh bạch theo những tiêu chuẩn mà giới dân chủ giả cầy vẫn khấn vái mỗi ngày. 'Đám tham nhũng vô lại dốt nát' của xứ ta hóa ra chỉ là học trò so với các quý ngài được giải Nobel Hòa Bình trong nghề chia chác tiền chùa.

Phúc lợi cho nhân dân thực ra nên được hiểu là phúc lợi cho tư bản.

Chưa hết, anh không thể cứ ngồi không ăn trợ cấp thất nghiệp mãi được, anh là một gánh nặng nhà nước cần phải thoát khỏi càng nhanh càng tốt. Do đó, chúng tôi tổ chức một bộ máy đào tạo và môi giới việc làm khổng lồ để giúp anh có việc làm mới. Chúng tôi sẽ kiểm tra sự tích cực trong công cuộc tìm kiếm việc làm của anh, nếu như trường học phàn nàn rằng anh chểnh mảng học nghề, hay chủ doanh nghiệp kêu rằng anh lười biếng trong giai đoạn thử việc, tức là anh làm biếng để tiếp tục ăn trợ cấp thất nghiệp, thì chúng tôi sẽ trừng phạt anh. Vì nhân đạo nên chúng tôi không thể bỏ tù anh, mà việc đó cũng tốn tiền, thế nên chúng tôi sẽ có những trò hành hạ tinh thần khác để giúp anh hăng hái đi kiếm việc làm.

Nhà nước phúc lợi, trên thực tế là một bộ máy hành chính quan liêu phi nhân tính hành hạ tinh thần người lao động hàng ngày dưới cái vỏ phúc lợi. Bạn có biết nước Đức 'văn minh' nghĩ ra trò gì để buộc những người nhận trợ cấp xã hội phải đi kiếm việc làm không? Đó là 1-Euro-Job. Sở Lao Động sẽ bắt người nhận trợ cấp, bất kể trẻ già gái trai, ra công viên quét lá cây đủ 8 tiếng mỗi ngày và nhận 1 Euro cho mỗi giờ làm việc, họ làm nhục con người như vậy và gọi đó là văn minh. Có một gia đình nọ, con cái đi làm thu nhập thấp không đủ nuôi mẹ già nên phải để mẹ già 80 tuổi ăn trợ cấp xã hội, thành thử mỗi ngày anh còn trai đi làm ngang qua công viên đều phải nuốt nước mắt nhìn bà mẹ 80 tuổi đứng phơi nắng nhặt lá cây. Đến một kẻ thù ghét loài người nhất ở Việt Nam cũng sẽ cảm thấy ngượng mồm khi phải đề xuất cái việc hạ nhục con người đó, nhưng ở những xứ 'văn minh' điều đó là bình thường. Bạn đừng hỏi tại sao ở những nước phát triển ấy lắm người phát điên hơn ở xứ ta.

Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay thì doanh nghiệp dễ dàng chuyển nhà máy sang các nước có nhân công giá rẻ và điều kiện thuận lợi hơn. Bên cạnh cuộc khủng hoảng dầu lửa thì đây chính là yếu tố thứ hai khiến các nhà nước phúc lợi ở Châu Âu suy tàn. Ở đâu có lợi nhuận cao thì đó là tổ quốc của tư bản. Vào những năm 1980, khi các quốc gia Đông Âu và Châu Á mở cửa, các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhân công ở Tây Âu đã nhanh chóng chuyển cơ sở sản xuất sang thiên đường mới. Các nhà nước phúc lợi Châu Âu phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao, thâm hụt ngân sách lớn, kinh tế trì trệ kéo dài.

Song chưa phải là hết, chế độ an sinh xã hội tốt và trợ cấp thất nghiệp cao ở các nước này đã ngăn cản người lao động làm các công việc lương thấp. Khi một bộ phận lớn tư bản chạy ra nước ngoài, tư bản trong nước bị buộc phải đầu tư vào các lĩnh vực sử dụng lao động giá rẻ hơn để cạnh tranh thì đối mặt với tình trạng thiếu lao động. Nhà nước phúc lợi buộc phải nhập khẩu lao động từ các nước khác. Lao động nhập cư thường làm các công việc bẩn thỉu, nặng nhọc và có mức lương thấp, họ không có công đoàn bảo trợ, không có phúc lợi xã hội, không có quyền công dân. Điều này là cần thiết để có tiền tiếp tục nuôi dưỡng các công dân của nhà nước phúc lợi. Để ngăn cản những người nhập cư tổ chức nhau lại và đòi quyền công dân thì các đảng phát xít mới ra đời. Đảng phát xít mới tập hợp đám thanh niên thất nghiệp học đòi thuyết chủng tộc thượng đẳng, bị nhồi sọ là lao động nhập cư cướp công ăn việc làm của người thượng đẳng, hãm hiếp chị em gái của họ, ăn cắp trợ cấp xã hội của họ... Đảng phát xít mới thường xuyên tấn công một cách có tổ chức vào người lao động nhập cư, mặc dù thành viên của chúng sống nhờ vào lao động của công nhân nhập cư. Vụ thảm sát 68 người của gã phát xít mới Breivik ở Na Uy không phải là tình cờ. Người nhập cư phải bị kiểm soát như tội phạm, người nhập cư không được phép có quyền công dân, người nhập cư phải làm các công việc bẩn thỉu, lương thấp, đó là mục đích tối thượng của các đảng phát xít mới. Tất nhiên người nhập cư không thể chịu đựng điều đó mãi nên các đảng phát xít sẽ là ngòi nổ thường trực của nhà nước phúc lợi.

Nhà nước phúc lợi có thành công không? Câu trả lời là: Có, trong một giai đoạn ngắn ngủi của lịch sử. Đó là sự kết hợp giữa nhà nước chuyên chế tiền tư bản với giai cấp tư sản, giai cấp tư sản cần đến điều đó để tránh phải đối đầu trực diện với giai cấp công nhân và gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế khi phải đối mặt với tư bản của các nước đã tư bản hóa trước họ từ lâu. Song sự thần kỳ ấy cũng nhanh chóng chấm dứt khi mô hình ấy đạt đến đỉnh cao của nó, chế độ phát xít. Hiện nay, các nước theo mô hình nhà nước phúc lợi hầu hết đã thất bại và chuyển dần sang một dạng hỗn hợp, kết hợp với thị trường tự do.

Không chỉ có giới công nhân cổ trắng lo sợ trước thảm cảnh thất nghiệp, giới trí thức 'giả cầy' ở nước ta đặc biệt ca ngợi mô hình nhà nước phúc lợi. Thậm chí họ còn công khai tuyên bố đó là con đường thứ ba, không phải chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, để Việt Nam theo đuổi. Chúng ta đều hiểu rằng mô hình nhà nước phúc lợi không khả thi ở Việt Nam bởi chúng đã lỗi thời và các điều kiện kinh tế hiện nay hoàn toàn không phù hợp. Vậy thì thực chất giới trí thức 'giả cầy' thực sự muốn gì? Họ muốn ở đó hai thứ.

Thứ nhất là sự phình ra của bộ máy hành chính quan liêu. Đó là cái nguồn béo bở để các trí thức 'giả cầy' nuôi dưỡng tầng lớp của họ, tạo công ăn việc làm cho con cháu họ với khẩu hiệu 'chế độ tài năng trị'. Họ không thể nai lưng làm thuê và bị bóc lột như công nhân được. Họ phải làm những công việc cao quý, cần đến đầu óc và tài năng, tốt hơn cả là các công việc nhà nước, mà xã hội trong trí tưởng tượng của đám trí thức này thì lúc nào cũng rối ren và cần đến một bộ máy nhà nước ngày càng lớn hơn.

Thứ hai, khi đối mặt với những xung đột đến từ nhiều hướng của một xã hội đang phát triển như Việt Nam hiện nay, họ bất lực trong việc hiểu những xung đột đó, nên họ hy vọng rằng việc kiểm soát toàn diện đời sống của người lao động, buộc người lao động phải phục tùng nhà nước, dưới sự lãnh đạo 'sáng láng' của giới trí thức, sẽ là giải pháp cho mọi rối ren. Điều này tất nhiên phù hợp với nhu cầu của giai cấp tư sản đang phất lên ở Việt Nam, nhưng công nhân thì không. 

Đấy chính là cách các trí thức 'giả cầy' của chúng ta kiếm phúc lợi cho bản thân dưới danh nghĩa phúc lợi cho nhân dân. Đấy chính là cách họ tạo ra chế độ phát xít dưới danh nghĩa xây dựng chế độ dân chủ.

Saturday, May 4, 2019

Tại sao những thứ bạn tưởng là chính trị nhưng lại không phải là chính trị?

Ở vùng nọ có một cái chợ làng, vốn là của xã quản lý. Một thời gian sau, doanh nghiệp lấy đất quanh xã xây lên một khu đô thị lớn. Người về ở đông như hội lại có thu nhập cao. Cái chợ làng trở nên sầm uất, buôn bán tấp nập. Tiền vào túi xã cả. Vùng đó được nâng cấp lên thành quận, xã trở thành phường. Quận thấy phố xá đẹp rồi mà để cái chợ sập xệ quá không ổn nên mới gọi doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng nâng cấp cái chợ cho xứng tầm.

Phường đang quản lý cái chợ, có đồng ra đồng vào vào, giờ có nguy cơ quận bán phéng nó cho doanh nghiệp, nên mới nghĩ mưu giữ chợ. Một anh bày ra kế hiểm như thế này, họ họp dân cư lại, tuyên bố thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, rồi cắt độ dăm lô ở chợ phân cho mấy gia đình thương binh liệt sĩ trong phường. Khi quận định lấy chợ thì họ xúi mấy gia đình thương binh liệt sĩ đó kéo đàn kéo lũ ra biểu tình phản đối.

Báo chí được dịp vớ bẫm, tống tiền cả doanh nghiệp lẫn quận, nào là: "Chính quyền cấu kết với doanh nghiệp cướp đất của dân!", "Công Lý ở đâu cho các gia đình thương binh liệt sĩ?".... Đám dân chủ giả cầy cũng được dịp lảng vảng ăn hôi. Mấy ông nghị gật được dịp chứng tỏ mình đây vì dân vì nước, chém gió xôn xao cả Quốc Hội.

Quận bị chơi một cú đau, mới nghĩ cách ép lại phường. Một anh quân sư quạt mo mới bày kế: Ta nắm trật tự với vệ sinh, cứ hai cái món ấy mà giã thì phường biết tay nhau ngay. Nói là làm, các đoàn kiểm tra vệ sinh với dẹp vỉa hè liên tục xuống quần đảo quanh khu chợ. Vốn cái chợ đã quá bé so với nhu cầu mua bán mà không được xây dựng mở rộng nên bà con tiểu thương tự mở rộng chui, bằng cách tràn ra hè phố với lòng đường buôn bán. Giờ suốt ngày bị dẹp vỉa hè với kiểm tra vệ sinh thì bà con còn làm ăn buôn bán gì được nữa.

Báo chí ngửi thấy mùi tiền, lại đua nhau vào viết bài kiếm view, nào là "Phải trả lại vỉa hè cho người dân!", "Vệ sinh an toàn thực phẩm đường phố là vấn đề đáng lo ngại!", "Cần phải cách chức những người có trách nhiệm!"... "Cách mạng cá chết", hội yêu cây yêu cá các loại, trương phềnh như mớ rô phi phơi bụng trên thớt của bà bán cá bên lề đường. Từ các NGOs về môi trường, y tế, cho đến đám bán thực phẩm chức năng đa cấp được dịp quảng cáo ầm ĩ như đám hát tuồng. Phường bị phen méo mặt, suốt ngày phải lo dọn dẹp đón các đoàn kiểm tra. Tiểu thương không buôn bán được thì kêu ca ầm trời. Báo chí suốt ngày hạch hỏi, phường cũng lại phải đấm mõm cho một mớ mới yên chuyện.

Tất cả chuyện ở trên đây đều là bịa, nhưng những sự kiện tương tự thì người ta quan sát thấy rất nhiều trong xã hội hiện nay.

Công nghệ phát triển giúp cho người ta đi từ quán trà đá đầu ngõ ra mạng xã hội toàn cầu, họ nghe báo chí, mạng xã hội và bức xúc với những thứ đó. Mỗi cái tít báo đều gây ra tranh luận và ủng hộ, có kẻ khen, có người chê. Người ta đưa ra ý kiến của mình và tưởng rằng những tập hợp ý kiến ấy đủ mạnh là có thể thay đổi tất cả, tức là họ đang làm chính trị vậy. Các lãnh tụ mạng chuyên xuôi dòng, cũng như ngược dòng, phán bảo ầm ĩ, con nhang đệ tử vái lấy vái để, Facebook lúc nào cũng sôi sục như có cách mạng hoa cứt lợn đến nơi. Nếu like & share mà là cách mạng thì facebook đã là nhà nước đế quốc toàn cầu từ lâu rồi.

Báo chí có phải chính trị không? Không, từ khi báo chí tách khỏi bộ máy nhà nước và kiếm tiền nhờ quảng cáo thì họ chỉ chạy quanh đăng vô tội vạ những thứ thu hút được người đọc, nên báo chí đánh mất đặc tính chính trị, không còn phản ánh trực tiếp các lợi ích chính trị nữa. Vậy mà có chuyện khôi hài là mấy anh nhà báo vẫn đòi được bảo vệ bằng luật thi hành công vụ, tức là mấy anh kiếm tiền bỏ túi tư, nhưng bị chú dân phòng nào ngứa mắt đá đít cho một cái thì lại kêu váng lên rằng tao đang thi hành công vụ nhé, chống tao là chống người thi hành công vụ đó.

Vậy chính trị nằm ở đâu? Chính trị là lúc phường với quận ngồi họp với nhau, thống nhất cách chia tiền thu được từ cái dự án xây chợ mới. Việc đó nằm ngoài tầm với của báo chí cũng như công chúng. Mọi chuyện tầm phào chấm dứt.

Tuesday, February 19, 2019

Đầu năm nói chuyện ăn Tết theo dương lịch

Từ độ hơn chục năm trở lại đây, năm nào cũng như năm nào, cứ mỗi độ xuân về là chúng ta lại phải chứng kiến một bản nhạc cũ mèm được những cái  loa rè của đám trí thức thân phương Tây phát đi phát lại không biết nhàm. Ấy là chuyện Việt Nam ta nên ăn Tết theo Tây lịch để được văn minh, hiệu quả về kinh tế và thoát ảnh hưởng của Trung Quốc.

Lập luận về văn minh là rất nhàm, phương Tây ăn Tết theo dương lịch, phương Đông ăn Tết theo âm lịch, người Hồi giáo hay Do Thái giáo đều nghỉ ngơi theo lịch riêng của họ, đằng nào cũng là văn minh và có bản sắc riêng của cả. Lấy cái chuẩn mực nào để nói cái nào văn minh hơn cái nào, thật là thô thiển hết chỗ nói. Như ông bà ta vẫn nhắn nhủ, ấy là cái đám me Tây nên cứt tây cũng thơm. Phương Tây văn minh hơn hết là tư duy từ thời thuộc địa, các đế quốc phương Tây nhồi vào đầu các nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ để dễ bề cai trị. Bây giờ các  nước Châu Á độc lập tự do, kinh tế cũng đã khởi sắc, cớ gì ngu dại tin vào điều đó nữa.

Lập luận về hiệu quả kinh tế mới nghe thì xuôi tai nhưng kỳ thực là bịp bợm. Họ nói rằng ăn Tết theo dương lịch để cho đỡ gián đoạn việc sản xuất, bán hàng cho phương Tây. Điều này là vô nghĩa, thực tiễn công nghiệp hiện đại cho thấy điều đó được xử lý rất dễ dàng về mặt kỹ thuật, tức là sản lượng hụt đi do nghỉ lễ thì sẽ được làm bù trước đó hoặc sau đó. Bên cạnh đó vẫn còn một khía cạnh nữa mà các nhà giả trí thức bịp bợm của chúng ta lờ tịt đi, ấy là chuyện Việt Nam hiện giờ xuất khẩu đi khắp thế giới chứ không phải mỗi phương Tây, trong đó Trung Quốc cũng là một bạn hàng lớn. Nếu bây giờ lấy cái lập luận về hiệu quả kinh tế đó áp vào thì những người bán hàng cho Trung Quốc sẽ đòi phải ăn Tết theo lịch Trung Quốc, những người bán hàng cho Ấn Độ sẽ đòi ăn Tết theo lịch Ấn Độ... vậy thì sẽ phải nghe ai. Nếu nghe một người thì những người khác sẽ hỏi lại rằng tại sao tôi phải hy sinh lợi nhuận của mình cho anh kia, anh ta có chia cho tôi đồng nào không? Thế đấy, những chuyện về kinh tế này chả đi đến đâu hết. Lại còn có một chuyện nữa là người ta kêu ca tết âm với tết dương gần nhau nên người lao động có tâm lý ăn chơi từ tết dương đến tết âm rồi chơi cả tháng giêng làm thiệt hai cho doanh nghiệp, chuyện này cũng vớ vẩn nốt. Thực tế tháng trước Tết âm lịch là tháng làm hàng bù cho kỳ nghỉ Tết, hầu hết các doanh nghiệp trước Tết đều tăng ca, công nhân thì tích cực hơn vì có thêm lương thưởng. Sau Tết thì hoạt động mua sắm tiêu dùng giảm đi,  vì đã chi tiêu trước Tết, do vậy các doanh nghiệp đều có sản lượng thấp sau Tết, người lao động có nhiều thời gian rảnh rang để đi lễ hội hơn. Một ví dụ điển hình ở Việt Nam là ngành lắp ráp ô tô, trước Tết, hầu hết các nhà máy lắp ráp ô tô đều chạy hết công suất, làm việc 3 ca/ngày, sản lượng ô tô bán ra các tháng trước Tết cực lớn. Ngược lại, tháng sau Tết là thảm họa của các đại lý bán xe vì ai mua xe được đã mua từ trước Tết, sau Tết họ chạy xe mới đi chơi lễ hội, không còn mấy ai đi mua xe cả. Các trí giả của chúng ta khi nói về hiệu quả kinh tế cũng lờ tịt đi một khía cạnh khác nữa, họ giả định rằng sự thống trị về thương mại quốc tế thì sẽ thống trị về văn hóa, tức là giờ chúng ta bán hàng cho phương Tây thì phải ăn Tết theo dương lịch cho đúng điệu toàn cầu hóa. Câu hỏi ngược lại: Nếu Trung Quốc thống trị thương mại thế giới thì Việt Nam và cả phương Tây sẽ phải ăn Tết theo lịch Trung Quốc? Đến đây thì các bạn hẳn đã biết câu trả lời, các trí giả của chúng ta sẽ tự vả vào miệng họ mà khăng khăng nói rằng, kinh tế có mạnh nhưng Trung Quốc vẫn kém văn minh, không nên theo Trung Quốc. Thực tế cho thấy các nước phương Tây giờ đây cũng đua nhau tổ chức các hoạt động mừng Tết âm lịch cho cộng đồng người Trung Quốc để mong phát tài.

Cuối cùng, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc là chuyện hài hước nhất tôi được nghe trong đời mình. Người Việt giờ ra đường đều mặc áo phông, quần jeans, uống cafe kiểu phương Tây, lúc cần lịch sự thì mặc veston, nói tiếng Anh ào ào trong làm ăn, đâu có thứ gì của Trung Quốc mà kêu ảnh hưởng. Việc buôn bán làm ăn với Trung Quốc của Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Chuyện buôn bán không phải là ảnh hưởng hay phải thoát ảnh hưởng gì hết. Về mặt chính trị thì Việt Nam đã từng bước ký hiệp định phân chia biên giới rõ ràng với Trung Quốc để khẳng định sự độc lập của mình, chỉ có một phần tranh chấp trên những đảo ngoài khơi, nhưng chuyện tranh chấp đó là bình thường giữa các quốc gia ở gần nhau và Việt Nam không chỉ có tranh chấp duy nhất với Trung Quốc, còn có những nước khác như Malaysia, Đài Loan, Philippines, Brunei. Nếu có đòi lại đảo thì đòi mấy nước kia chắc chắn dễ hơn đòi Trung Quốc, nhưng các trí giả hậm hực của chúng ta thường lờ tịt điều đó đi, họ chỉ chĩa mũi nhọn vào Trung Quốc, tránh phải động tới các đồng minh của Mỹ.

Nhật Bản quá khứ và hiện tại

Người ta thường ca ngợi rằng Nhật Bản bỏ âm lịch theo dương lịch nên sau 100 năm đã trở thành giàu thứ hai thế giới nhưng người ta quên mất rằng Trung Quốc chả cần bỏ cái gì, chỉ cần 40 năm đã thành giàu thứ hai thế giới và đang trên đà trở thành giàu nhất thế giới.

Người Nhật bỏ âm lịch theo dương lịch vào năm 1873, nhưng họ giàu lên là nhờ quá trình tư bản hóa thành công giai đoạn sau Thế Chiến Thứ 2, chứ không phải nhờ vào việc bỏ âm lịch. Giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản mặc dù hùng mạnh nhưng chỉ là một đế quốc nhỏ ở phương Đông. Sau Thế Chiến Thứ 2, khi nước Nhật thua trận và trở thành thị trường của Mỹ và phương Tây thì mới nhanh chóng phất lên, nhưng cái giá phải trả là quá đắt. Việc nói Nhật Bản giàu lên nhờ bỏ âm lịch là tào lao.

Sau hơn một thế kỷ ăn Tết theo dương lịch thì người Nhật Bản cảm thấy rằng họ đã đánh mất bản sắc và lại đang muốn khôi phục lại bản sắc của mình. Họ muốn khôi phục Tết theo âm lịch, tuy vậy chưa thành công.


"Nhật Bản đã bỏ âm lịch để sử dụng dương lịch vì những đòi hỏi của nền kinh tế khi đó. Nhưng như tôi đã nói, Nhật Bản lẽ ra vẫn có thể giữ Tết Nguyên đán như một nét văn hóa cổ truyền và là sợi dây liên kết cộng đồng. Chúng ta đang sống trong một xã hội toàn cầu hóa. Điều đó tạo ra một xã hội mở, nhưng mặt khác nó khiến con người mất đi bản sắc, sự nhận diện "chúng ta là ai?".
Đây là một vấn đề lớn, thậm chí về khía cạnh an ninh quốc gia. Một quốc gia có thể có trong tay những máy bay chiến đấu hiện đại nhất, tinh xảo nhất, nhưng nếu những người điều khiển máy bay không có ý chí mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền quốc gia thì các máy bay hiện đại ấy chẳng có tác dụng gì.
Bên cạnh đó, con người chỉ có sức mạnh khi họ đoàn kết và cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng để đoàn kết mọi người. Đây là lý do nhiều người Nhật Bản muốn khôi phục lễ hội đón năm mới cổ truyền, với mong muốn giúp làm tăng sức mạnh cộng đồng".
Lý do của Nhật Bản rất rõ ràng, họ muốn tạo ra một bản sắc văn hóa riêng với sức kết nối cộng đồng mạnh mẽ để gia tăng sức cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa.

Hàn Quốc khôi phục Tết âm lịch

Người ta hay nhắc đến Nhật Bản như là hình mẫu bỏ âm lịch để giàu có nhưng lại quên mất nước láng giềng Hàn Quốc đã nỗ lực khôi phục lại Tết âm lịch sau gần 100 năm bị từ bỏ.

Năm 1910, Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên vào Nhật Bản và buộc người Triều Tiên phải sử dụng dương lịch như họ, điều này có nghĩa là Triều Tiên cũng phải ăn Tết theo dương lịch. Thế nên đối với người Triều Tiên khi đó, Tết theo dương lịch là biểu tượng của sự ô nhục, của sự mất nước. Suốt thời kỳ bị Nhật Bản cai trị, TriềuTiên cũng không vì ăn Tết theo dương lịch mà giàu lên được.

Sau đó, Triều Tiên bị tách thành hai miền Bắc-Nam, miền Nam được gọi là Hàn Quốc. Nắm chính quyền ở Hàn Quốc là các cựu sĩ quan quân đội đánh thuê cho Nhật,  họ vẫn làm ăn với Nhật Bản và áp dụng dương lịch cho đến tận năm 1985. Khi đó, người Hàn Quốc đấu tranh dữ dội để bỏ Tết theo dương lịch và khôi phục âm lịch, điều này không chỉ là yếu tố văn hóa mà nó còn phản ánh sự trỗi dậy của Hàn Quốc, họ muốn có bản sắc riêng và đoạn tuyệt với cái dấu hiệu ô nhục của thời mất nước. Vào năm 1989, Hàn Quốc chính thức khôi phục Tết âm lịch. Cùng với việc Tết âm lịch được khôi phục, hàng loạt các nghi lễ và phong tục truyền thống được tiếp thêm sức mạnh từ không gian và thời gian truyền thống, điều này đã góp phần tạo ra một Hàn Quốc có bản sắc văn hóa độc đáo và gia tăng các mối liên kết cộng đồng của thời kỳ hiện đại.

Hàn Quốc đã đi ngược dòng, thậm chí với sự giàu có của mình, các nước phương Tây cũng phải nở nụ cười cầu tài, chúc người Hàn Quốc ăn Tết âm lịch vui vẻ hàng năm. Giờ đây có ai dám nói Hàn Quốc lạc điệu với thế giới, âm lịch hay bị Hán hóa không?

Việt Nam trên con đường đi tới

Việc kêu gào đòi bỏ âm lịch để ăn Tết theo dương lịch ở Việt Nam thể hiện rõ một mặt là sự trỗi dậy của tầng lớp tư sản, họ muốn phá vỡ các mối liên kết cộng đồng để thay nó bằng quan hệ tiền-hàng lạnh lùng, bởi vì sự thống trị của họ dựa vào quan hệ đó, mặt khác thể hiện sự yếu thế của họ, họ không có khả năng dựa vào những điều kiện văn hóa xã hội sẵn có của Việt Nam mà phải dựa vào sức mạnh của tư bản quốc tế, thế nên họ muốn tất cả mọi thứ phải dập khuôn theo phương Tây. Mặc dù những lập luận của đám trí giả trong vấn đề này rất tào lao và dễ dàng bị bẻ gãy, họ giống như những con rối mua vui cho đám báo lá cải mỗi độ xuân về, song không vì vậy mà chúng ta quên mất động cơ thật sự ẩn giấu sau việc này.

Với việc chuyển sang dương lịch, âm mưu của họ là xóa bỏ toàn bộ ý niệm về thời gian tuần hoàn của phương Đông, các giá trị văn hóa của phương Đông vốn sinh tồn trong cái ý niệm về thời gian đó. Thay vào đó, họ áp đặt một ý niệm thời gian cơ giới, một chiều, mọi thứ đều trở nên vô định, quá khứ, hiện tại và tương lai không còn là một vòng tuần hoàn nữa mà là sự kết hợp ngẫu nhiên trong đó quá khứ và tương lai chỉ là chức năng của hiện tại. Điều này có nghĩa là xóa bỏ lịch sử, lịch sử Việt Nam chấm dứt, các giá trị văn hóa của Việt Nam cũng sẽ biến mất cùng với ý niệm về thời gian tuần hoàn. Lịch sử sẽ được bắt đầu bằng một cái mốc trống rỗng nào đó theo dương lịch và nó sẽ được lấp đầy bằng sự xét lại, bằng sự du nhập văn hóa tư bản. Không phải ngẫu nhiên mà đám trí giả ca tụng việc bỏ âm lịch là một cuộc cách mạng vĩ đại của Nhật Bản và thúc giục Việt Nam học theo điều đó. Cái giá Việt Nam phải trả sẽ là rất khủng khiếp, nhưng đám trí giả đâu có thèm quan tâm đến sự khủng khiếp đó, đối với họ cuộc cách mạng đó sẽ đưa họ lên địa vị thống trị, với tư cách là những kẻ môi giới của phương Tây. Miệng thì rêu rao rằng muốn Việt Nam trở nên hùng cường nhưng đằng sau những lời dối trá đó là âm mưu bán rẻ Việt Nam cho phương Tây, dìm Việt Nam vào vũng bùn tăm tối mất gốc, trở thành một thứ nô lệ văn hóa, đấy là bản chất của đám trí giả ngày nay.

Nếu ai đó hỏi tôi về việc ăn Tết theo dương lịch thì tôi sẽ trả lời như thế này: Khi nào Việt Nam đủ giàu, cả thế giới sẽ chung vui Tết âm lịch với Việt Nam.

Sunday, October 7, 2018

Sản xuất tri thức và sản xuất vật chất

Guigliemo Carchedi có một cuốn sách đáng chú ý về chủ nghĩa duy vật lịch sử tên là Behind The Crisis, trong đó có một chương bàn về vai trò của tri thức trong xã hội tư bản.

Trước hết cần phải hiểu là Carchedi phủ nhận lối phân chia lao động trí óc và lao động chân tay, ông phân chia thành hai loại lao động là lao động tinh thần (mental labour) và lao động vật  chất (objective labour), và cả hai loại lao động này đều cấu thành từ lao động trừu tượng và lao động cụ thể, ông phủ nhận lao động trí óc hay lao động chân tay thuần túy, mà coi mọi loại lao động đều bao gồm cả chân tay và trí óc.

Carchedi đặt vấn đề tri thức là vật chất, dựa trên cơ sở quá trình sản xuất ra tri thức cũng là quá trình vật chất, do có sự hao phí sức lao động của con người. Song không phải mọi loại tri thức đều là vật chất, trong quá trình sản xuất ra tri thức thì người lao động sử dụng tri thức chủ quan (công cụ lao động) để biến đổi tri thức khách quan (đối tượng lao động), đã được vật chất hóa, ví dụ một sáng kiến được lưu trong máy tính, thành tri thức mới. Theo quan điểm của Carchedi thì tri thức khách quan mới là vật chất, hay nói cách khác, tri thức đã được vật chất hóa.

Tại sao điều đó lại cần thiết? Bởi vì nó là cơ sở để giải thích quá trình sản xuất và tích lũy tri thức xã hội, nó bác bỏ quan niệm của giới tri thức về việc đồng nhất tri thức chủ quan với khách quan và dẫn đến quan niệm kiểu workerism.

Trong chương về tri thức, G. Carchedi phê phán quan niệm của phái workerism, phái này dựa vào một đoạn trích dẫn Marx nói về vai trò của tri thức chung, tức là tri thức chung trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Họ lập luận rằng dưới chủ nghĩa tư bản thì tri thức xã hội tăng lên không ngừng, được khuếch tán rộng rãi khiến cho nhà tư bản không còn dựa vào lao động trực tiếp được nữa mà ngày càng phải dựa vào tri thức chung của xã hội để tồn tại, mà tri thức này lại nằm trong tay công nhân. Do đó xã hội tư bản sẽ tự biến đổi thành xã hội của công nhân. G. Carchedi chỉ ra rằng các nhà kinh tế chính trị theo phái workerism đã lảng tránh vấn đề sản xuất tri thức trong chủ nghĩa tư bản. Dựa trên phân tích về sản xuất tri thức theo phương pháp phân tích hàng hóa của Marx, tức là phân tích giá trị sử dụng và giá trị, quá trình sản xuất giá trị đồng thời là sản xuất giá trị thặng dư, G. Carchedi chỉ ra rằng, tri thức xã hội chung là món quà tặng miễn phí mà chủ nghĩa tư bản chiếm được, nó chỉ tạo ra giá trị sử dụng, không tạo ra giá trị, rất nhiều tri thức được tạo ra nhằm phục vụ trực tiếp cho sản xuất hoặc phi sản xuất nhưng không bán được cũng không phải là sản xuất giá trị. Bên cạnh đó, việc sản xuất tri thức để bán, tức là sản xuất giá trị ngày càng phát triển, tức là trái ngược với hình dung của phái workerism, việc sản xuất tri thức lại ngày càng rơi vào sự kiểm soát của tư bản, thay vì công nhân.

G. Carchedi nhấn mạnh vào phần sản xuất tri thức trở thành sản xuất giá trị, tức là để đem bán. Việc sản xuất đó hoàn toàn diễn ra trong các điều kiện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và không cần đến sự thay thế nó. Phái workerism hình dung rằng việc tri thức xã hội trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội theo tiến trình tự nhiên. Carchedi phê phán quan niệm này và chỉ ra là chủ nghĩa tư bản có khả năng kiểm soát việc sản xuất tri thức.

Tóm lại, trong chủ nghĩa tư bản thì sản xuất tri thức ngày càng trở thành sản xuất giá trị, tức là để đem bán lấy tiền. Các nhà khoa học, kỹ sư vĩ đại ngồi trên ngai vàng lấp lánh của chúng ta luôn mơ đến ngày họ sẽ biến thế giới này thành một cỗ máy do họ điều khiển, thay cho những nhà tư bản béo mập, nhưng thực tại đập vào mặt họ là cần phải bán những tri thức họ tạo ra lấy tiền đã, còn không thì về mặt giá trị xã hội họ còn thua cả anh chàng dọn vệ sinh bẩn thỉu mà họ vẫn thường gọi một cách khinh bỉ là đám lao động chân tay hạ đẳng.

Thursday, September 27, 2018

Bàn về chuyện kinh doanh sách giáo khoa

Đánh giá của ủy ban Quốc Hội 
Hệ thống cung cấp sách giáo khoa bao gồm:

1. 90 nhà in sách ở các tỉnh thầu in sách cho NXB Giáo Dục
2. 3 cấp đại lý: đại lý khu vực, đại lý địa phương, đại lý bán lẻ

Về mặt logistic: Việc đặt in tại 90 nhà in ở các tỉnh cho thấy quy mô của các nhà in là nhỏ so với sản lượng sách giáo khoa. Việc gom sách về kho trung tâm rồi sau đó phân phối cho các cấp đại lý là cách làm bình thường. Đây là mô hình mạng lưới tập trung, theo mô hình này không ai lại đi chuyển trực tiếp từ nhà in tới các cấp đại lý phân phối cả, điều đó sẽ phát sinh chi phí vận chuyển lớn hơn nhiều do sản lượng vận chuyển không được tối ưu ở các tuyến vận chuyển. Muốn chuyển sang mô hình phân tán, tức là sản lượng phát hành tại các địa phương sẽ phải cực nhỏ hoặc cực lớn, song điều đó cũng có nghĩa là phải thay đổi chiến lược sản phẩm để khai thác tối đa thị trường địa phương.

Về mặt chiết khấu cho đại lý: Tỷ lệ chiết khấu 40% trông có vẻ cao, nhưng nếu chia theo 3 cấp đại lý thì không nhiều. Phần chiết khấu cũng không phải là lợi nhuận mà các đại lý được hưởng, chúng dùng để bù đắp chi phí kinh doanh của các đại lý nữa, sau khi trừ chi phí mới là lợi nhuận. Ở đây, doanh thu bán sách giáo khoa lên đến 1.000 tỷ đồng, các đại lý được chiết khấu 250 tỷ đồng, có nghĩa là doanh thu thực của các đại lý chỉ là 250 tỷ. Sau khi trừ đi chi phí kinh doanh thì phần lợi nhuận của họ ít hơn 250 tỷ đồng nhiều.
Kết quả kinh doanh SGK của NXB Giáo Dục

Vấn đề thực sự: Chỉ cần một mô tả đơn giản ở trên và chút ít kiến thức về logistic thì người ta thấy ngay là việc phát hành sách giáo khoa đối với các đại lý là gánh nặng. Vấn đề là sách giáo khoa thuộc độc quyền của bộ Giáo Dục và hệ thống đại lý buộc phải cung cấp, họ không được phép từ chối.

NXB Giáo Dục độc quyền phát hành sách giáo khoa thì họ cũng độc quyền gánh vác nghĩa vụ công ích. Điều này thể hiện ở chỗ hệ thống đại lý của họ sẽ phải cung cấp cho các địa phương ngay cả khi sản lượng thấp, họ cũng phải chấp nhận giá bán thống nhất không được quyền điều chỉnh trên toàn quốc do Bộ Tài Chính quy định cho dù giá này không đủ bù chi phí tại nhiều địa phương. Sản lượng và giá cả ở đây không phụ thuộc vào thị trường mà sẽ phụ thuộc vào nhu cầu phổ cập giáo dục của nhà nước.

Các công ty phát hành sách địa phương đã nhanh chóng tìm cách bù đắp thiệt hại từ việc cung cấp sách giáo khoa bằng cách liên kết với các nhà xuất bản khác và nhà trường để đưa thêm sách tham khảo đủ loại vào bộ sách giáo khoa bán cho học sinh. Như vậy, NXB Giáo Dục trên thực tế không kiểm soát được bộ sách giáo khoa mà họ cung cấp cho học sinh. NXB Giáo Dục biết rõ điều này nhưng họ không thể can thiệp, vì thứ nhất là họ không có quyền và thứ hai là nếu họ có thể can thiệp thì cũng sẽ phải đối đầu với vấn đề chi phí phát hành.

Vậy làm thế nào để các đại lý có lãi?

Câu trả lời: Tư nhân hóa việc cung cấp sách giáo khoa bằng cách cho phép doanh nghiệp tư nhân tự do in nhiều bộ khác nhau để các địa phương tùy ý lựa chọn, các đại lý sẽ được giải phóng khỏi nghĩa vụ buộc phải cung cấp sách giáo khoa theo cấp hành chính. Họ sẽ lựa chọn cung cấp sách giáo khoa ở những khu vực nào có mức sản lượng đủ để mang lại lợi nhuận. Khu vực nào sản lượng thấp, không có đại lý nào muốn cung cấp thì nhà nước sẽ phải dùng ngân sách để bù đắp phần thâm hụt nhằm đảm bảo trẻ em đi học có sách giáo khoa để dùng. Điều này trên thực tế chỉ là một bước hợp thức hóa sự kiểm soát việc cung cấp sách giáo khoa của các đại lý.

Việc tư nhân hóa thị trường sách giáo khoa sẽ giúp các doanh nghiệp phát hành sách giáo khoa giành được thế độc quyền ở địa phương và phát hành sách theo cách mà họ thu được lợi nhuận. Địa phương chỉ có thể lựa chọn bộ sách mà doanh nghiệp cung cấp.

Ý nghĩa: Tất cả những chuyện ồn ào này chỉ nhằm một mục đích duy nhất: Tách vai trò kinh doanh ra khỏi nghĩa vụ công ích trong việc cung cấp sách giáo khoa. Lợi nhuận để doanh nghiệp hưởng, còn phần lỗ thì nhà nước bù đắp. Đấy là bản chất của kinh tế thị trường. Mọi triết lý cao đẹp về giáo dục đều sẽ phải phục tùng triết lý của tiền bạc.

Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khi người ta nói "vì người dân" thì nên hiểu là vì doanh nghiệp và lợi nhuận. Ngay cả đối với NXB Giáo Dục, mặc dù họ độc quyền kinh doanh sách giáo khoa, nhưng khi được giải phóng khỏi những ràng buộc chính trị và chỉ còn phải theo đuổi lợi nhuận thì họ cũng sẽ rất vui mừng.

Mọi thứ có thể đảo ngược không?

Lợi nhuận sẽ quyết định điều đó, hiện giờ lợi nhuận đòi hỏi phải tư nhân hóa việc cung cấp sách giáo khoa, nên điều này không có nghĩa là không thể đảo ngược. Đến một lúc nào đó lợi nhuận từ việc cung cấp sách giáo khoa không đủ hấp dẫn tư nhân kinh doanh nữa thì lĩnh vực này sẽ quay trở lại độc quyền nhà nước. Tất cả những điều đó tất nhiên sẽ luôn được biện minh bằng quyền lợi của người dân.

Vụ ồn ào về sách giáo khoa công nghệ giáo dục:

Có phải ngẫu nhiên mà một bộ sách giáo khoa được sử dụng từ lâu bất ngờ gây tranh cãi bất tận trên truyền thông? Không, nếu người ta biết rằng thành phố Hồ Chí Minh được phép sử dụng bộ sách giáo khoa riêng. Đó là thị trường lớn nhất ở Việt Nam và có điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất nhờ cơ sở hạ tầng phát triển. Doanh nghiệp nào nhanh chân thâu tóm được thị trường sách giáo khoa ở thành phố Hồ Chí Minh sẽ có lợi nhuận lớn. Vậy nên ông giáo sư công nghệ giáo dục khi đi trả lời phỏng vấn báo chí mới lăm lăm trong tay cuốn "Gạc Ma-Vòng tròn bất tử". Ngay cả ông trưởng ban tuyên giáo cũng không bỏ qua cơ hội cho bàn dân thiên hạ thấy cuốn sách ấy trên tay mình. Đằng sau cuốn sách ấy là một công ty phát hành sách mà kẻ đứng đầu vốn lọc lõi về kinh doanh. Những sự tình cờ nhưng không hề tình cờ, nhất là khi nó đều hướng về thị trường sách giáo khoa ở thành phố Hồ Chí Minh.

Sunday, September 23, 2018

Mại dâm và tư duy tư sản về mại dâm


Thông thường thì các nghiên cứu khoa học thực nghiệm về hành vi của động vật chỉ mang tính gợi mở, đại loại như loài này có hành vi như vậy, nhưng không có nghĩa là khái quát hành vi thành bản năng hay gán cho hành vi một tập tính xã hội.

Song bỏ qua vấn đế xuyên tạc khoa học, điều đáng ghê tởm trong bài báo này là việc ám chỉ bán dâm là bản năng động vật, con người vốn cũng là một động vật nên có bản năng đó, chứ bán dâm không phải là một hành vi xã hội. Kẻ khốn nạn viết bài báo trên đã có một phát kiến khủng khiếp. Thay vì chỉ lo việc hợp pháp hóa bán dâm cho người, người ta có thể nghĩ đến việc mở nhà thổ để người bán dâm cho tinh tinh hoặc ngược lại mở nhà thổ để tinh tinh bán dâm cho người, đằng nào cả hai cũng là động vật cả. Chủ nhà thổ có thể kiếm được cả đống tiền nhờ thị trường chưa từng được khai phá ấy.

Đấy là cái bệnh tật đáng ghê tởm của chủ nghĩa duy lý kiểu tư sản, mỗi khi bàn đến hành vi mua bán hay trao đổi thì nó đều quy con người về động vật, quy hành vi con người thành bản năng thú vật. Tức là để biện minh cho chế độ tư bản, nó sẵn sàng hạ cấp con người thành động vật, nhờ thế không chỉ hạ thấp con người theo cách khốn nạn nhất mà nó còn tuyên bố cái quan hệ mua bán là bản năng tự nhiên tồn tại vĩnh viễn. Hay nói cách khác, con người vĩnh viễn là động vật của tư bản.

Sunday, August 26, 2018

Tin tức về một tay giặc lái

Ảnh: Bia John McCain ở hồ Trúc Bạch
Nguồn: Internet
Mục sư nói với người nhà của thượng nghị sĩ John McCain quá cố:
-Tôi có tin tốt lành cho các vị đây: McCain đang được bay lên thiên đường với đức Chúa Trời.
- Ông ấy đã tới nơi chưa, thưa cha? Một người hỏi.
Mục sư nói tiếp:
- Còn đây là tin xấu: Tụi Việt Cộng đã bắn rơi máy bay của ông ấy.

(Chuyện bịa, nhưng không nhất thiết phải khác với sự thật)

P/s: Nhiều năm nữa người ta sẽ quên John McCain, như đã quên Bill Clinton, nhưng tấm bia hồ Trúc Bạch sẽ luôn còn đó, nhắc nhở người Việt Nam về những gì họ đã phải làm để giành lấy độc lập, tự do và phẩm giá.

Saturday, August 18, 2018

Ai lạc hậu? Ai văn minh?

Dân xứ Nam ta vẫn còn mông muội lắm, cứ phải Tây mới văn minh. Hà cớ chi các chú bày ra ba cái trò này để dân xứ Nam được dịp kiêu căng, nhận xằng mình văn minh nhỉ?


Người ta thường đem cái ảnh biển đề cấm ăn cắp hay cấm lấy đồ dư bằng tiếng Việt ở Nhật hay Thái Lan đăng lên để chứng minh dân Việt Nam ý thức kém, không cư xử văn minh. Cái truyền thống tự quản của làng xã từ xa xưa, ví như những quán nước đầu làng chả có ai trông coi, gia chủ bận đi làm đồng, ai vào uống nước hay mua gì thì tự tính tiền rồi để đó, thì không bao giờ được truyền thông ngày nay nhắc tới.

Quay lại cái quán có hình ở trên, tại sao chủ quán lại dám áp dụng mô hình tự quản ở một xứ mà ngày ngày truyền thông rao giảng không biết mệt mỏi về tệ nạn trộm cắp, cư xử kém văn minh?

Thứ nhất là ông chủ quán biết rõ truyền thông báo chí chỉ rặt nói láo, cũng có thể có người lấy nước không tự giác trả tiền, song số đó không đáng kể.

Thứ hai là mô hình kinh doanh của ông chủ quán khiến ông buộc phải làm vậy, ông bán buffet giá rất rẻ, muốn giá rẻ mà có lãi thì tất phải tiết kiệm chi phí phục vụ, có nghĩa là phải để khách hàng tự phục vụ tối đa. Khách vào quán này ăn nhiều tất sẽ quen với cách đó.

Ý thức không phải tự nhiên mà có, nó được sinh ra từ sinh hoạt hàng ngày, mà cái sinh hoạt đó, nhất là việc mua bán lại do mô hình kinh doanh quyết định, tức là do tư bản quyết định.

Ở những xứ tư bản phát triển thì họ áp dụng mô hình tự phục vụ, tự thanh toán nhiều để tiết kiệm chi phí, do vậy dân xứ họ buộc phải quen với những việc đó. Song điều đó không có nghĩa là không có nạn trộm cắp, gian lận.

Việc truyền thông hàng ngày hàng giờ bêu riếu những cái gọi là thói hư tật xấu, cư xử kém văn minh, mặc dù điều đó hoàn toàn là tào lao, không hẳn chỉ là để thu hút sự chú ý hay truyền bá văn minh phương Tây. Ngược lại đó là một sự đe dọa, một hình phạt bằng sự lên án thường trực của công luận để giúp cho các chủ doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng các mô hình tự phục vụ, tự quản,  nhằm tiết kiệm chi phí cho họ. Những khách hàng định gian lận sẽ luôn bị những bảng hiệu lên án trộm cắp bằng tiếng Việt ở Nhật Bản ám ảnh. Đây chính là bản chất của chế độ tư bản, chủ doanh nghiệp từ bỏ các nghĩa vụ và quyền lực công cộng để có quyền lực tuyệt đối trong việc kiếm lợi, ngược lại một bộ phận khác sẽ đảm nhiệm quyền lực công cộng đó để hỗ trợ cho chủ doanh nghiệp.

Người ta thường nói rằng truyền thông Việt Nam càng ngày càng thối nát, đưa tin xàm, nói láo câu view vô tội vạ, nhưng cái mà người ta không hiểu là truyền thông giờ đang chuyển sang phục vụ cho tư bản, lợi nhuận của tư bản mới là lợi ích tối cao mà nó phục vụ. Trên phương diện đó thì truyền thông lại là sức mạnh công cộng đáng kể mà doanh nghiệp nắm được, do vậy đối với chủ tư bản mà nói thì truyền thông không nát chút nào, nó đang làm đúng cái việc cần phải làm.

Bởi vậy mà nói, nếu lấy chế độ tư bản ra làm chuẩn mực cho cái gọi văn minh thì mọi chế độ khác đều sẽ kém văn minh. Hơn nữa, đó là một sự đề cao chế độ tư bản vì đã lấy chế độ tư bản làm giá trị phổ quát, thang đo cho mọi xã hội. Việt Nam đã xây dựng một chế độ xã hội khác, người Việt Nam trước hết phải bỏ qua cái thang đo lạc hậu ấy và tự tạo ra cho mình những chuẩn mực mới.

P/s: Cái ảnh này không phải ở thủ đô thanh lịch lại càng không phải ở đô thành hoài nhớ thời thuộc địa hoa lệ quằn quại dưới gót giày lính lê dương, mà là ở Rạch Giá, Kiên Giang.

Sunday, August 20, 2017

Phải dùng vũ khí phê phán hay phải phê phán bằng vũ khí?



Vấn đề thứ nhất: Đất nước Việt Nam là một thể thống nhất từ năm 1945, sau khi Việt Nam giành độc lập từ tay đế quốc Nhật Bản, Việt Nam chỉ có một chính quyền duy nhất hợp pháp do nhân dân bầu ra, đó là chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Các đế quốc xâm lược và đám tay sai đều đòi công nhận sự chính danh cho đám bù nhìn của chúng. Cha ông chúng ta đã trả lời chúng bằng súng, đối với kẻ thù thì không có lý lẽ nào thuyết phục hơn đạn chì. Người Việt Nam chân chính sẽ tiếp tục làm điều đó nếu cần thiết.

Việc tranh luận về một vấn đề đã được giải quyết dứt khoát và dứt điểm bằng xương máu của hàng triệu người Việt Nam là vô nghĩa. Kẻ thù luôn đòi hòa giải hòa hợp bằng cách công nhận và bù đắp thiệt hại của chúng nhưng chính chúng không bao giờ chịu công nhận và bù đắp thiệt hại của những người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc. Do đó, hòa giải với chúng có nghĩa là đầu hàng, có nghĩa là cúi đầu làm nô lệ và phủ nhận sạch công lao cũng như xương máu của cha ông. Không một người Việt Nam tự do và có lương tri nào lại có thể chấp nhận điều đó.

Vấn đề thứ hai: Thừa nhận sự hợp pháp của chính quyền bù nhìn để được tiếp quản lãnh thổ của chúng hay lập luận theo kiểu luật pháp quốc tế về việc chiếm hữu lãnh thổ liên tục với tư cách nhà nước cũng là điều vô nghĩa. Chính quyền bù nhìn không sở hữu bất cữ lãnh thổ nào. Hãy nhìn thẳng vào sự thật, đế quốc Mỹ mới là kẻ chiếm hữu miền Nam Việt Nam. Ngụy quyền Sài Gòn chỉ là đám đánh thuê cho Mỹ, không có bất cứ thứ quyền lực tế nào đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Thế nên công nhận sự hợp pháp của ngụy quyền Sài Gòn thì điều đó có nghĩa là nước Việt Nam hiện tại phải bồi thường cho các quyền lợi của đế quốc Mỹ đã bị thiệt hại trước năm 1975. Người Việt Nam giờ phải trả tiền cho bom đạn đã ném xuống đầu mình, thật là bỉ ổi hết sức. Tất cả chỉ là lối nói lắt léo của đám cặn bã, cái lý lẽ của mà chúng giấu đằng sau là thừa nhận ngụy quyền hợp pháp hay thừa nhận lợi ích hợp pháp của đế quốc Mỹ vì vậy Mỹ sẽ ra sức bảo vệ lợi ích của họ ở miền Nam. Đây chính là con đường bán nước, chúng nhân danh bảo vệ đất nước để bán nước. Việc tranh cãi điều này cũng vô nghĩa, Mỹ đã từng đến đây nói cái lý lẽ đó cùng với bom đạn, chúng ta đã trả lời bằng súng và chúng ta đã thắng.

Vấn đề thứ ba: Nhiều người sẽ không hiểu tại sao hiện nay có một bộ phận lớn trí thức, dân chúng đòi công nhận ngụy quyền Sài Gòn hợp pháp, mặc dù dân tộc Việt Nam đã trả lời một lần và dứt khoát điều đó vào năm 1975. Đây không chỉ là vấn đề chính trị đơn thuần mà còn là vấn đề giai cấp. Cuộc chiến tranh chống Mỹ thống nhất đất nước Việt Nam cũng là chiến tranh giai cấp, do giai cấp tư sản và đại địa chủ ở miền Nam dựa vào Mỹ để âm mưu thiết lập sự thống trị ở Việt Nam, nhưng chúng đã bị đập tan. Sau khi hòa bình lập lại, Việt Nam tái thiết đất nước từ đống tro tàn chiến tranh, buộc phải sử dụng đến kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tức là chế độ tư bản, tức là đặt quyền lực kinh tế vào tay giai cấp tư sản. Do đó, giai cấp tư sản phản động bắt đầu ngóc đầu dậy, cái lý lẽ mà chúng viện đến là: Anh đã phá hủy con đường của tôi nhưng giờ anh lại phải đi con đường đó, như vậy anh sai còn tôi mới đúng, thế nên anh phải thừa nhận đã sai và hòa giải với tôi, sau đó làm theo những gì tôi muốn. 

Chúng ta cần phải hiểu rằng đằng sau âm mưu kêu gọi công nhận sự hợp pháp của ngụy quyền Sài Gòn chính là âm mưu khôi phục chế độ tư bản. Khi ngụy quyền Sài Gòn được coi là hợp pháp thì chế độ tư bản mà ngụy quyền Sài Gòn tạo dựng cũng được coi là hợp pháp và có thể danh chính ngôn thuận bàn luận, , khôi phục, khai thác và tìm cách áp dụng cho xã hội hiện tại, từ giáo dục, văn hóa, nghệ thuật cho đến mô hình kinh tế chính trị. Đấy chính là cái mưu toan mà giới trí thức phản động mong muốn, cái âm mưu đó cũng phù hợp với những lợi ích của giai cấp tư sản vốn đã bị kiềm chế. Do vậy, chúng nhận được sự ủng hộ nhất định từ một bộ phận giai cấp tư sản và trí thức phản động. Đây chính là sự khởi đầu cho công cuộc phản cách mạng, đánh đổ các nền tảng của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Ẩn mình sau cuộc tranh luận về tính hợp pháp của ngụy quyền Sài Gòn chính là đấu tranh giai cấp, không phải là sự ảo tưởng của đám tàn dư cờ vàng hay sự ngu dốt của một bộ phận dân chúng. Những người vô sản cần luôn hiểu rõ điều này. Một bộ phận trong bộ máy nhà nước cũng đang từng bước ngả theo giai cấp tư sản, điều này không thể tránh khỏi do giai cấp tư sản đang nắm quyền lực về kinh tế, do vậy họ sẽ ủng hộ giai cấp tư sản dưới những hình thức lắt léo và tinh vi. Những người vô sản trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và duy trì quyền lực nhà nước của mình không thể tránh khỏi việc phải đối đầu với những thế lực phản động ấy. Nếu người vô sản từ bỏ lập trường giai cấp, nhắm mắt làm ngơ không chịu nhìn nhận sự trỗi dậy của giai cấp tư sản thì tất sẽ không đoàn kết được các lực lượng tiến bộ và để cho giai cấp tư sản dễ dàng đạt được điều mà chúng mong muốn, trong khi đó những người vô sản sẽ phải vật lộn với những rối loạn mà chúng đã tạo ra. 

Cuối cùng, vũ khí phê phán không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí. Có những vấn đề không thể giải quyết bằng lời nói mà phải dùng đến đạn chì. Đó chính là điều mà cha ông chúng ta đã làm.

Monday, June 26, 2017

Grab/Uber Bike và xe ôm truyền thống

Mỗi khi ai đó nhắc đến sự bùng nổ của mấy mô hình kinh doanh kiểu Grab Bike hay Uber Bike và sự suy tàn của xe ôm truyền thống, tôi thường được nghe thấy câu kết luận rằng: Xe ôm truyền thống cứ cải thiện chất lượng dịch vụ, hạ giá, làm ăn nghiêm chỉnh minh bạch như Grab/Uber Bike đi, đừng lừa đảo bắt chẹt khách nữa, thì lo gì không có khách.

Câu hỏi ngược lại thường khiến người kết luận im lặng ngay lập tức: Ngay cả khi xe ôm truyền thống làm ăn nghiêm chỉnh minh bạch như Grab Bike hay Uber thì họ có cạnh tranh được về thương hiệu, các chương trình khuyến mại, giảm giá, tặng quà và hệ thống tiếp cận khách hàng với mấy hãng kia không?

Những người làm xe ôm truyền thống hầu hết là người nghèo, không trình độ, vốn liếng chỉ có chiến xe máy rẻ tiền, họ không bao giờ có hàng triệu dollar để ném vào các chương trình quảng cáo, giảm giá, tặng quà và hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin như Grab hay Uber. Trong cuộc chiến này, họ đã thua chắc chắn.

Thông thường người ta thấy giá một cuốc xe hay tính trên km của xe ôm truyền thống đắt hơn của Uber hay Grab, họ sẽ cho rằng xe ôm truyền thống tính đắt hơn. Song người ta sẽ không khó để hiểu được điều này, xác suất kiếm được khách hàng của xe ôm truyền thống thấp hơn Grab/Uber, ngược lại xác xuất kiếm được khách hàng của Grab/Uber cao hơn rất nhiều do họ kết nối với số lượng lớn khách hàng qua một hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin cực kỳ tốn kém. Do vậy, mặc dù xe ôm truyền thống tính phí/km cao hơn nhưng thu nhập một ngày của họ thấp hơn rất nhiều so với người chạy Grab/Uber, ngược chính điều này cho phép  người chạy xe Grab/Uber tính phí/km thấp hơn nhưng vẫn có thu nhập lớn hơn xe ôm truyền thống. 

Hơn nữa, Grab/Uber hiện giờ đang là những doanh nghiệp start-up, tức là họ chưa cần phải tính toán đến lợi nhuận, họ lại nhận được một khoản tiền khổng lồ để mở rộng mạng lưới kinh doanh. Sức cạnh tranh của họ rất khủng khiếp với các chương trình khuyến mại giảm giá, tặng quà và quảng cáo mạnh mẽ. Liệu có xe ôm truyền thống nào có đủ tiền để đối đầu với họ? 

Cơn bão start-up đã cho thấy rõ cách thức mà các start-up phát triển. Nó cần phải thu hút được đủ tiền để làm phá sản các doanh nghiệp hoặc những người kinh doanh nhỏ trên thị trường và sau đó nó sẽ đủ lớn để kiếm lợi. Công nghệ hay tính hữu dụng chỉ là vỏ bọc phù phiếm. Những vụ mua bán start-up trị giá nhiều triệu dollar cũng có nghĩa là nhiều doanh nghiệp sẽ bị phá hủy.

Một điều chắc chắn là phần lớn những người chạy xe ôm truyền thống hiện nay sẽ thất nghiệp, tạo ra một gánh nặng mới cho xã hội. Đó là cái giá phải trả thứ hai của cơn mê start-up. Khác với doanh nghiệp taxi, vốn đóng thuế nhiều cho nhà nước, có thể lên tiếng đòi nhà nước bảo vệ, tiếng nói của những người chạy xe ôm truyền thống lẻ loi sẽ chẳng có ai lắng nghe.

Nhưng phần còn lại của xe ôm truyền thống sẽ ra sao? Họ sẽ vẫn tồn tại, chỉ có điều theo cách khác. Nếu tiếp tục hoạt động đơn lẻ, họ chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Nếu họ đầu quân cho các doanh nghiệp vận tải kiểu mới với ứng dụng tương tự như Grab hay Uber thì họ sẽ bị chúng nuốt chửng và trở thành người làm thuê.

Cách duy nhất giúp xe ôm truyền thống tiếp tục tồn tại là hợp tác hóa. Điều này đã xuất hiện tại nhiều nơi nhưng ít người để ý. Các lái xe sẽ kết hợp với nhau thành một kiểu hợp tác xã, dùng điện thoại để liên hệ, điều phối xe và đón khách. Việc đó giúp họ có thể tăng xác suất kiếm được khách, hạ giá cước, cũng như thực hiện các chương trình nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều mấu chốt trong cách làm này là họ cần phải thực hiện việc hợp tác hóa và chiếm lấy những thị trường Grab/Uber chưa vươn tới, để khi Grab/Uber bắt đầu vươn sang những thị trường đó thì xe ôm truyền thống đã đứng vững với cách kinh doanh mới rồi.

Sunday, April 16, 2017

Sự trỗi dậy của miền Trung và hệ quả

Bài viết ngắn này được rút ra từ những chuyến đi qua nhiều tỉnh của tôi và nhằm mục đích trình bày mâu thuẫn giai cấp ở Việt Nam liên quan đến vùng miền dưới dạng phổ thông nhất cho đại đa số người đọc. 

Sự bất ngờ từ khu vực miền Trung

Thời gian vừa qua tôi đi đến các tỉnh của Việt Nam khá nhiều để khảo chất lượng dịch vụ tại các chi nhánh của một doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp này cung cấp loại sản phẩm rất đắt tiền, khách hàng của họ là hầu hết là những người giàu và có thu nhập cao ở Việt Nam. Điều này có nghĩa là yêu cầu về chất lượng dịch vụ cũng rất cao

Nhiều người khi đối mặt với câu hỏi “Chất lượng dịch vụ ở đâu tốt nhất?” hầu như đều cho rằng chất lượng dịch vụ ở miền Nam là tốt nhất, sau đó đến miền Bắc và không ai cho rằng chất lượng dịch vụ ở miền Trung là tốt nhất cả, đặc biệt là chất lượng của những dịch vụ cao cấp. Đa số người miền trung mà tôi gặp cũng nghĩ như vậy.

Nhưng kết quả khảo sát đã làm tôi thực sự bất ngờ, chất lượng dịch vụ của khu vực miền Trung là tốt nhất, vượt trội hẳn so với miền Nam và miền Bắc. Người lao động và các chi nhánh miền Trung tuân thủ rất tốt các quy định về chất lượng dịch vụ.

Sự kiện này có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường kinh doanh ở miền Trung, điều đó có nghĩa là khách hàng sẽ hài lòng hơn, mua nhiều hàng hóa hơn và doanh nghiệp ở miền Trung sẽ nhận được các khoản đầu tư lớn hơn. Điều này cũng cho thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ của người lao động và doanh nghiệp miền Trung, họ đang trên đà cất cánh.

Mâu thuẫn trong kinh tế thị trường

Chủ nghĩa tư bản hay kinh tế thị trường tồn tại dựa trên sự cạnh tranh không ngừng, giữa các doanh nghiệp, giữa các địa phương, cũng như giữa nông thôn và thành thị. Khi khu vực miền Trung vươn lên, trở nên mạnh mẽ và độc lập hơn về kinh tế thì tất yếu vị thế thống trị từ trước tới nay của các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh sẽ bị ảnh hưởng. Thứ nhất, các nguồn đầu tư lớn hơn sẽ đổ vào miền Trung thay vì các trung tâm kinh tế lớn. Thứ hai, các doanh nghiệp miền Trung sẽ giành được thị phần lớn hơn từ các doanh nghiệp ở hai đầu đất nước.

Liệu các doanh nghiệp và các địa phương ở hai đầu đất nước sẽ đứng yên nhìn điều đó? Không, họ sẽ tìm mọi các chống lại điều đó. Ngoài việc gia tăng đầu tư thì họ cũng sẽ tìm cách chống lại sự tăng trưởng của miền Trung bằng những hàng rào kỹ thuật. Ví dụ, vận động chính quyền trung ương áp đặt các quy tắc nghiêm ngặt hơn về bảo vệ môi trường cho khu vực miền Trung, điều này sẽ khiến các việc đầu tư vào công nghiệp ở miền Trung có chi phí cao hơn ở các khu vực khác, tức là giảm bớt sự hấp dẫn của khu vực miền Trung.

Từ kinh tế đến chính trị

Đó là mâu thuẫn tất yếu của kinh tế thị trường và rất nhiều thế lực khác nhau sẽ sống ký sinh vào mâu thuẫn đó. Ví dụ, báo chí quảng cáo cho các doanh nghiệp ở miền Bắc và miền Nam sẽ rất sốt sắng khi đưa tin tức về những rối loạn của môi trường kinh doanh hay sự tham nhũng của quan chức chính quyền các tỉnh miền Trung. Hãy lưu ý, sự định hướng là rõ ràng ngay cả khi báo chí đưa tin trung thực và chính xác, chưa cần đến việc họ xuyên tạc hay bóp méo sự việc. Trên chính trường, người ta thường xuyên bắt gặp hơn những vận động chính trị liên quan đến của miền Trung, sẽ không ai thấy làm lạ khi các đại biểu Quốc Hội ở khu vực phía Bắc hay phía Nam bắt đầu chú ý và đòi làm rõ sai lầm tại các tỉnh miền Trung. Ngay cả khi việc này là minh bạch và đúng đắn thì nó cũng làm phân tán nguồn lực và khiến cho lãnh đạo các tỉnh miền Trung phải bảo thủ hơn trong các quyết định của mình, nhất là các quyết định liên quan đến môi trường kinh doanh.

Việt Nam đang trong tiến trình của một nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chấp nhận kinh tế thị trường tức là chấp nhận những mâu thuẫn của kinh tế thị trường và cần phải kiểm soát được những mâu thuẫn ấy. Sự vận động và phát triển của quốc gia cũng sẽ gắn liền với việc kiểm soát những mâu thuẫn đó.

Các thế lực phản động tại Việt Nam hiện nay cũng tồn tại bám vào những mâu thuẫn của cơ thế thị trường cũng như khoảng trống do sự vận động mà các mâu thuẫn đó tạo ra. Ví dụ, khi vấn đề môi trường ở miền Trung đang nóng bỏng thì không có lãnh đạo nào dại dột đi xử lý mạnh tay một nhúm biểu tình về môi trường, mặc dù biết rằng đó là những kẻ phá hoại mượn danh bảo vệ môi trường. Lý do rất đơn giản: anh tự đưa mình vào thế bất lợi khi làm việc đó, anh sẽ khiến công chúng tin rằng anh bảo kê cho sự phá hoại môi trường. Chính việc sống ký sinh này khiến cho một số người ngộ nhận và cố tình ngộ nhận rằng các nhóm phản động là do chính quyền nuôi dưỡng. Sự ngộ nhận này khiến cho họ trở thành một phần của thế lực phản động, họ luôn cho rằng muốn chống lại những kẻ phản động thì trước hết phải chống lại chính quyền nói chung. Đó là một lập luận vô cùng kỳ quặc và chống lại giai cấp vô sản vì chính quyền là công cụ duy nhất để giai cấp vô sản thực hiện cuộc cách mạnh của mình. Hãy lưu ý rằng mục đích của các thế lực phản động luôn là lợi dụng các mâu thuẫn sẵn có để lật đổ chế độ hiện tại, vậy thì những người kia khác gì với chúng?


Kết luận

Miền Trung đang vươn lên mạnh mẽ và các lãnh đạo ở đây cũng sẽ phải học cách chung sống với những cạnh tranh gay gắt hơn cả về kinh tế lẫn chính trị. Miền đất sắt đá nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc giờ đây sẽ phải học cách đương đầu với những mâu thuẫn đòi hỏi phải xử lý bằng nghệ thuật ứng xử chính trị tinh tế hơn là cách làm dân vận truyền thống. Điều này có lẽ là một cơ hội hơn là thách thức.