Gadget

This content is not yet available over encrypted connections.

Wednesday, February 26, 2014

Sự phi lý của kinh tế học hiện đại

Khoa kinh tế học hiện đại tuyên bố đưa ra một sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố sản xuất và mỗi bên tham gia nhận được phần tương xứng với đóng góp của mình để thay thế khoa kinh tế chính trị cổ điển vốn đi sâu vào phân tích quá trình sản xuất nên đã gây ra những xung đột về lợi ích giữa lao động và tư bản.

Mô hình sản xuất của khoa kinh tế học hiện đại bao gồm hai yếu tố là lao động và vốn. Lý thuyết về năng suất biên của vốn đã bị chỉ ra là chứa đựng đầy những điều phi lý và bế tắc ở bài này. Phần lý thuyết về năng suất biên của lao động cũng phi lý không kém, nhưng khoa kinh tế học hiện đại đã lén lút thủ tiêu chủ đề này đi. Trong hầu hết các sách giáo khoa về kinh tế học ngày nay phần phân tích về năng suất biên của lao động đã bị cắt bỏ, chỉ còn có thể tìm thấy chúng trong sách giáo khoa về kinh tế học của Paul Samuelson. Lý do chủ yếu bởi vì Paul Samuelson là đại biểu chính của phái Keynes, để trình bày lý thuyết về thất nghiệp bắt buộc, vốn là hòn đá tảng trong lý thuyết tổng quát của Keynes, thì không thể nào không trình bày khái niệm năng suất biên của lao động.

Khoa kinh tế học mô tả khái niệm năng suất biên của lao động là số lượng sản phẩm tăng thêm khi tăng thêm một đơn vị lao động trong khi các yếu tố đầu vào khác không đổi. Ví dụ minh họa bằng bảng sau:

Tổng số lao động        Tổng sản phẩm   Sản phẩm biên  Giá trị sản phẩm biên 
          1                                  5                         0                              0
          2                                  9                         4                              16
          3                                 12                        3                              12       
          4                                 14                        2                              8

Giả định là giá của sản phẩm đầu ra là 4, để tối đa hóa lợi nhuận thì nhà tư bản sẽ thuê 4 nhân công với mức lương là 8, tức là tiền lương của người công nhân sẽ bằng với giá trị sản phẩm biên của người lao động cuối cùng được thuê. Có ba điểm phi lý xảy ra trong phân tích này.

Thứ nhất, khoa kinh tế học hiện đại không giải thích được tại sao năng suất biên của lao động lại giảm. Tổng số lượng sản phẩm do 2 người kết hợp làm ra lại ít hơn tổng số lượng sản phẩm do 2 người làm việc riêng lẻ, điều này chống lại mọi kinh nghiệm thực tế cũng như khoa học về lao động. 

Thứ hai, mỗi người công nhân được thuê đều chỉ nhận được tiền lương là 8, bất kể năng suất lao động, đóng góp của họ ra sao. Tức là tiền lương không bằng với giá trị sản phẩm mà họ tạo ra. Điều này phản lại nguyên tắc công bằng mà khoa kinh tế học theo đuổi.

Thứ ba, phần chênh lệch giữa tổng giá trị sản phẩm biên và tổng tiền lương của công nhân (16+12+8)-(8x4) = 4 thuộc về nhà tư bản. Tức là nhà tư bản đã bóc lột những công nhân không ở vị trí marginal. Khoa kinh tế học hiện đại đã chứng minh sự hài hòa lợi ích giữa lao động và tư bản bằng sự bóc lột lao động.

John B. Clark, người tạo ra phân tích về năng suất biên của các yếu tố đầu vào đã cố gắng giải quyết vấn đề thứ ba bằng cách đưa ra giả định là năng suất biên của mọi người lao động là như nhau. Song điều đó lại mâu thuẫn với giả định năng suất biên giảm dần khiến cho động cơ tối ưu hóa lợi nhuận của nhà tư bản trở thành vô nghĩa.

Nhận rõ sự mâu thuẫn trong lý thuyết của John B. Clark nên sau khi trình bày phân tích về năng suất biên của lao động thì Paul Samuelson đã  tránh phải đi sâu hơn nữa vào vấn đề bằng cách lập luận rằng lý thuyết năng suất biên của lao động chỉ nhằm giải thích nhà tư bản sẽ quyết định thuê lao động ra sao khi mức lương đã được biết trước chứ không nhằm giải thích lương, tô hay lợi nhuận.

Giáo sư kinh tế học người Anh Roy H. Grieve sau khi thừa nhận những phi lý của khoa kinh tế học hiện đại đã tuyên bố rằng: "Ideological comfort was bought at the price of intellectual integrity", đó chính là lời thú tội của khoa kinh tế học hiện đại, nó đã vứt bỏ cái áo khoác của nhà khoa học và choàng lên mình chiếc áo chùng của thầy tu.

Tài liệu tham khảo:

1. E. K. Kunt and Mark Lautzenheiser: "Hisory of Economic Thought: A Critical Perspective"; Third Edition; M. E. Shape Publisher; New York 2011

2. Roy H. Grieve: "The marginal productivity theory of the price of capital: An historical perspective on the origins of the codswallop"; Link 2012

3. Marc Linder: "The Anti-Samuelson", Volume II: Microeconomic; Urizen Book; New York 1977

4. Michael Perelman: "The End of Economics"; Routledge Publisher; New York 1996

4 comments:

  1. Có lẽ em hỏi câu này ở bài này là hợp lý. Anh có thể giải thích ngắn gọn về đường cong Phillips kiểu Keynes (Keynesian Phillips curve). mục đích và sự phi lý của nó không ạ? Có ví dụ hay tài liệu đáng tin thì càng tốt ạ.

    Em bắt đầu đọc báo để mở rộng hiểu biết, nhưng nhiều thuật ngữ kinh tế khó hiểu, vì vậy nếu được anh giải thích thì tốt quá :D

    ReplyDelete
    Replies
    1. Đường cong Phillip là sự mô tả mang tính chất kinh nghiệm về sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp.

      Chính xác hơn là New Keynesian Phillip Curve, đường này do phái New Keynes (sau khi lý thuyết của Keynes phá sản rất lâu) tạo ra để chứng minh sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp chỉ diễn ra trong ngắn hạn.

      Delete
    2. Em đọc bài này với bài năng suất biên của vốn, cùng với kiến thức đã học xong thì càng thấy kinh tế học nó phi lí. Em chẳng hiểu tại sao họ thường hay xác định các đại lượng về tiền trước (như giá cả, tiền lương) rồi mới tới việc quyết định sản xuất bao nhiêu và thuê lao động, tức là đầu vào tính sau, trong khi mức lương và giá cả lại là thứ có sau ...

      Delete
    3. Phi lý đối với bạn nhưng hợp lý đối với nhà tư bản. Nhà tư bản luôn đối mặt với thị trường bằng một khoản tư bản ứng trước và sự phân chia của tư bản ứng trước thể hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xuất phát điểm của nhà tư bản. Do đó, nhà tư bản biến mất với tư cách là con người, bây giờ anh ta chỉ còn là công cụ của tư bản, suy nghĩ và tư duy của anh ta là sản phẩm của quan hệ sản xuất tư bản và hoạt động trong khuôn khổ của quan hệ sản xuất ấy. Nhà tư bản là sự nhân hóa của QHSX TBCN nên đối với anh ta sự phi lý của tư bản là lý trí duy nhất tồn tại trên cõi đời này.

      Bạn vẫn chưa thoát khỏi sách vở được, sự phê phán tư tưởng không phải bắt nguồn từ tính duy lý mà phải là sự phê phán chính cái tính duy lý đó. Tính duy lý vốn là nguyên tắc tối cao của hệ tư tưởng tư sản.

      Delete