Showing posts with label Văn hóa. Show all posts
Showing posts with label Văn hóa. Show all posts

Sunday, August 20, 2017

Phải dùng vũ khí phê phán hay phải phê phán bằng vũ khí?



Vấn đề thứ nhất: Đất nước Việt Nam là một thể thống nhất từ năm 1945, sau khi Việt Nam giành độc lập từ tay đế quốc Nhật Bản, Việt Nam chỉ có một chính quyền duy nhất hợp pháp do nhân dân bầu ra, đó là chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Các đế quốc xâm lược và đám tay sai đều đòi công nhận sự chính danh cho đám bù nhìn của chúng. Cha ông chúng ta đã trả lời chúng bằng súng, đối với kẻ thù thì không có lý lẽ nào thuyết phục hơn đạn chì. Người Việt Nam chân chính sẽ tiếp tục làm điều đó nếu cần thiết.

Việc tranh luận về một vấn đề đã được giải quyết dứt khoát và dứt điểm bằng xương máu của hàng triệu người Việt Nam là vô nghĩa. Kẻ thù luôn đòi hòa giải hòa hợp bằng cách công nhận và bù đắp thiệt hại của chúng nhưng chính chúng không bao giờ chịu công nhận và bù đắp thiệt hại của những người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc. Do đó, hòa giải với chúng có nghĩa là đầu hàng, có nghĩa là cúi đầu làm nô lệ và phủ nhận sạch công lao cũng như xương máu của cha ông. Không một người Việt Nam tự do và có lương tri nào lại có thể chấp nhận điều đó.

Vấn đề thứ hai: Thừa nhận sự hợp pháp của chính quyền bù nhìn để được tiếp quản lãnh thổ của chúng hay lập luận theo kiểu luật pháp quốc tế về việc chiếm hữu lãnh thổ liên tục với tư cách nhà nước cũng là điều vô nghĩa. Chính quyền bù nhìn không sở hữu bất cữ lãnh thổ nào. Hãy nhìn thẳng vào sự thật, đế quốc Mỹ mới là kẻ chiếm hữu miền Nam Việt Nam. Ngụy quyền Sài Gòn chỉ là đám đánh thuê cho Mỹ, không có bất cứ thứ quyền lực tế nào đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Thế nên công nhận sự hợp pháp của ngụy quyền Sài Gòn thì điều đó có nghĩa là nước Việt Nam hiện tại phải bồi thường cho các quyền lợi của đế quốc Mỹ đã bị thiệt hại trước năm 1975. Người Việt Nam giờ phải trả tiền cho bom đạn đã ném xuống đầu mình, thật là bỉ ổi hết sức. Tất cả chỉ là lối nói lắt léo của đám cặn bã, cái lý lẽ của mà chúng giấu đằng sau là thừa nhận ngụy quyền hợp pháp hay thừa nhận lợi ích hợp pháp của đế quốc Mỹ vì vậy Mỹ sẽ ra sức bảo vệ lợi ích của họ ở miền Nam. Đây chính là con đường bán nước, chúng nhân danh bảo vệ đất nước để bán nước. Việc tranh cãi điều này cũng vô nghĩa, Mỹ đã từng đến đây nói cái lý lẽ đó cùng với bom đạn, chúng ta đã trả lời bằng súng và chúng ta đã thắng.

Vấn đề thứ ba: Nhiều người sẽ không hiểu tại sao hiện nay có một bộ phận lớn trí thức, dân chúng đòi công nhận ngụy quyền Sài Gòn hợp pháp, mặc dù dân tộc Việt Nam đã trả lời một lần và dứt khoát điều đó vào năm 1975. Đây không chỉ là vấn đề chính trị đơn thuần mà còn là vấn đề giai cấp. Cuộc chiến tranh chống Mỹ thống nhất đất nước Việt Nam cũng là chiến tranh giai cấp, do giai cấp tư sản và đại địa chủ ở miền Nam dựa vào Mỹ để âm mưu thiết lập sự thống trị ở Việt Nam, nhưng chúng đã bị đập tan. Sau khi hòa bình lập lại, Việt Nam tái thiết đất nước từ đống tro tàn chiến tranh, buộc phải sử dụng đến kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tức là chế độ tư bản, tức là đặt quyền lực kinh tế vào tay giai cấp tư sản. Do đó, giai cấp tư sản phản động bắt đầu ngóc đầu dậy, cái lý lẽ mà chúng viện đến là: Anh đã phá hủy con đường của tôi nhưng giờ anh lại phải đi con đường đó, như vậy anh sai còn tôi mới đúng, thế nên anh phải thừa nhận đã sai và hòa giải với tôi, sau đó làm theo những gì tôi muốn. 

Chúng ta cần phải hiểu rằng đằng sau âm mưu kêu gọi công nhận sự hợp pháp của ngụy quyền Sài Gòn chính là âm mưu khôi phục chế độ tư bản. Khi ngụy quyền Sài Gòn được coi là hợp pháp thì chế độ tư bản mà ngụy quyền Sài Gòn tạo dựng cũng được coi là hợp pháp và có thể danh chính ngôn thuận bàn luận, , khôi phục, khai thác và tìm cách áp dụng cho xã hội hiện tại, từ giáo dục, văn hóa, nghệ thuật cho đến mô hình kinh tế chính trị. Đấy chính là cái mưu toan mà giới trí thức phản động mong muốn, cái âm mưu đó cũng phù hợp với những lợi ích của giai cấp tư sản vốn đã bị kiềm chế. Do vậy, chúng nhận được sự ủng hộ nhất định từ một bộ phận giai cấp tư sản và trí thức phản động. Đây chính là sự khởi đầu cho công cuộc phản cách mạng, đánh đổ các nền tảng của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Ẩn mình sau cuộc tranh luận về tính hợp pháp của ngụy quyền Sài Gòn chính là đấu tranh giai cấp, không phải là sự ảo tưởng của đám tàn dư cờ vàng hay sự ngu dốt của một bộ phận dân chúng. Những người vô sản cần luôn hiểu rõ điều này. Một bộ phận trong bộ máy nhà nước cũng đang từng bước ngả theo giai cấp tư sản, điều này không thể tránh khỏi do giai cấp tư sản đang nắm quyền lực về kinh tế, do vậy họ sẽ ủng hộ giai cấp tư sản dưới những hình thức lắt léo và tinh vi. Những người vô sản trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và duy trì quyền lực nhà nước của mình không thể tránh khỏi việc phải đối đầu với những thế lực phản động ấy. Nếu người vô sản từ bỏ lập trường giai cấp, nhắm mắt làm ngơ không chịu nhìn nhận sự trỗi dậy của giai cấp tư sản thì tất sẽ không đoàn kết được các lực lượng tiến bộ và để cho giai cấp tư sản dễ dàng đạt được điều mà chúng mong muốn, trong khi đó những người vô sản sẽ phải vật lộn với những rối loạn mà chúng đã tạo ra. 

Cuối cùng, vũ khí phê phán không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí. Có những vấn đề không thể giải quyết bằng lời nói mà phải dùng đến đạn chì. Đó chính là điều mà cha ông chúng ta đã làm.

Monday, December 26, 2016

Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Các phe phái chống cộng đều có một lập luận chung rằng: Chủ nghĩa xã hội là một ảo tưởng chỉ có chủ nghĩa tư bản là hiện thực vì vậy Việt Nam cần phải từ bỏ ảo tưởng và đi theo hiện thực. Hoặc tinh vi hơn thì sẽ sử dụng hình mẫu các nước Bắc Âu để nói rằng có một con đường thứ ba, kết hợp giữa chủ nghĩa tư bản và dân chủ hay nhân quyền, tạo ra hạnh phúc ấm no. Tóm lại, tất cả những gì cần thiết là đi theo chủ nghĩa tư bản dưới hình thức này hay hình thức khác.

Đối với các vị tư sản thì trước kia có lịch sử nhưng khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện thì lịch sử chấm hết. Loài người mãi mãi dừng lại chủ nghĩa tư bản. Hãy thử tưởng tượng, bạn quay về đế quốc La Mã và nói với họ rằng xã hội chiếm hữu nô lệ trên đỉnh cao văn minh nhân loại của họ sẽ bị các bộ tộc German dã man đánh bại và thay thế nó bằng một chế độ khác. Những người La Mã văn minh ấy sẽ trả lời bạn hệt như các vị tư sản ngày nay. Hoặc gần hơn nữa, hãy nhớ lại lập luận của các vị tư sản khi họ treo cổ đám vua chúa phong kiến lên, mặc dù đám vua chúa và quý tộc phong kiến ấy giàu sang và có học hơn họ nhiều. Lúc đó nếu ai dám nói với họ rằng chế độ tư bản chỉ là ảo tưởng, chỉ có các triều đình phong kiến là hiện thực thì chỗ của người đó sẽ là trên giá treo cổ, bên cạnh vua chúa và quý tộc các loại.

Trước hết, chủ nghĩa xã hội không phải là ý tưởng kỳ quái từ đâu đó sinh ra, đó là quy luật của xã hội loài người, đó là quy luật của lịch sử, nó sinh ra khi chủ nghĩa tư bản đạt đến mức độ phát triển nhất định, ngay chính trong lòng xã hội tư bản với tư cách là sự thay thế chế độ tư bản. Quy luật ấy sẽ phải được thể hiện bằng sự lựa chọn của một số quốc gia nhất định bởi vì chủ nghĩa tư bản đã củng cố và tạo ra các biên giới quốc gia thống nhất thay cho các lãnh địa phong kiến tản mạn xưa kia.

Tại sao người Việt Nam lựa chọn chủ nghĩa xã hội mà không chọn chủ nghĩa tư bản?

Chủ nghĩa tư bản phát triển đến mức độ nhất định tại một số quốc gia thì nó sẽ phá hoại những điều kiện phát triển bình thường tại một số quốc gia khác khiến cho những quốc gia bị phá hoại không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản được nữa. Nếu các ngài tư sản có nói với bạn rằng hãy chọn con đường tư bản để được giàu có và hạnh phúc thì bạn hãy chỉ cho các ngài ấy thấy ngoài Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, chủ nghĩa tư bản chưa từng thành công ở bất cứ đâu, đa phần các nước khác hoặc là chìm trong đói nghèo lạc hậu của một xã hội đứng ở ngưỡng cửa của chủ nghĩa tư bản hoặc phải sử dụng một phiên bản không hoàn thiện của chủ nghĩa tư bản. Việt Nam là một nạn nhân của chủ nghĩa tư bản thời đại đế quốc, bom đạn, văn minh, dân chủ, nhân quyền phương Tây đã gần như đưa xứ sở của chúng ta về thời đồ đá, rất tiếc là họ không được như ý vì chúng ta đã tiến vào thời đại đồ nhôm. Con đường chủ nghĩa tư bản đã khép lại từ lâu và không hứa hẹn đem lại bất cứ thứ gì tốt đẹp cho Việt Nam. Lịch sử đã không cho chúng ta chọn chủ nghĩa tư bản.

Kể từ khai sinh cho đến nay, chủ nghĩa tư bản đã đạt đến độ chín của nó. Hãy nhớ rằng khi La Mã bị người German dã man đánh bại thì La Mã phát triển hơn German rất nhiều, sở dĩ có điều đó là bởi vì chế độ chiếm hữu nô lệ của La Mã đã mất hết động lực phát triển và trở thành gánh nặng. Chủ nghĩa tư bản ngày nay cũng vậy, các nước tư bản vẫn giàu có hùng mạnh và có thể hùng hổ bắt nạt cả thế giới, nhưng trong căn nguyên của chủ nghĩa tư bản thì cái quan hệ sản xuất của nó đã lạc hậu và mất hết động lực phát triển. Xưa kia khi quan lại phong kiến cố gắng bám lấy chế độ phong kiến trước sự đe dọa của chủ nghĩa tư bản bằng những lý lẽ nào thì giờ các vị tư sản lại bám lấy chế độ tư bản bằng những lý lẽ y hệt. Lý trí sáng suốt nào lại cho phép chúng ta bám lấy những gì đang suy tàn mà từ bỏ cái mới tốt đẹp hơn đang hình thành. Không, chính lý trí đã giúp người Việt có được sự lựa chọn sáng suốt. Cũng cần phải nói thêm rằng nếu không có cái lý trí sáng suốt ấy thì người Việt Nam cũng như nước Việt Nam thậm chí còn không tồn tại. Nỗi nhục nước bị xóa tên trên bản đồ, người Việt phải nói tiếng Pháp thay cho tiếng mẹ đẻ chẳng phải là mới ngày hôm qua thôi sao?

Chủ nghĩa tư bản phát triển dựa trên quan hệ giữa các cá nhân độc lập với tư cách chủ sở hữu hàng hóa, quan hệ giữa họ là mua bán. Những phương thức sản xuất khác thì không dựa trên việc mua bán hàng hóa nên buộc phải dựa vào các mối quan hệ gia tộc, huyết thống và sự mở rộng nhất định của các thiết chế mang tính tập thể. Khi các chủ nghĩa tư bản phát triển thì Việt Nam mới ở vào giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến vì vậy các quan hệ xã hội và thiết chế mang tính tập thể của người Việt Nam vẫn còn rất mạnh. Chính yếu tố đó khi được trui rèn trong lò lửa của cách mạng vô sản và các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc suốt nửa sau thế kỷ 20 đã nuôi dưỡng trong lòng xã hội Việt Nam cái hạt nhân mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội. Lý trí của người Việt bắt nguồn từ hiện thực của người Việt chứ không phải là một ảo tưởng sùng bái vĩ nhân hay học thuyết ngoại lai nào đó. 

Nói tóm lại, lịch sử đã chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam vì trong lòng xã hội Việt Nam đã mang sẵn những mầm mống của nó, cho dù nước Việt Nam vẫn còn chưa được giàu mạnh. Hãy nhìn lại lịch sử! Chẳng phải các bộ tộc người German dã man đã đánh bại La Mã thần thánh đó sao? Chẳng phải thương nhân Hà Lan đã đánh bại cả triều đình Habsburg lẫn đế quốc Tây Ban Nha hùng mạnh để giành độc lập sau 80 năm kháng chiến gian khổ ngay giữa lúc chế độ phong kiến châu Âu đạt tới đỉnh cao đó sao? Cần phải nói thêm rằng cũng chính người Hà Lan đã đưa William Orange lên ngai vàng nước Anh (để làm đồng minh chống lại Tây Ban Nha), mở đường cho nước Anh rệu rã sau này trở thành đế quốc của thời đại tư bản.

Để hình thành xã hội tư sản thì giai cấp tư sản của nó phải đủ mạnh, nhưng chính bản thân giai cấp tư sản ở Việt Nam lại chưa bao giờ đủ mạnh và độc lập. Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành nhờ vào vai trò trung gian giữa đế quốc và người bản địa, thế nên dưới chế độ thuộc địa thì giai cấp tư sản hoàn toàn lệ thuộc vào đế quốc. Khi chế độ thuộc địa bị đập tan thì giai cấp tư sản cũng nhanh chóng tan rã, những mảnh còn lại của nó buộc phải bám lấy giới tiểu thương thành thị, nông dân giàu và trí thức. Sau này, khi kinh tế thị trường được phát triển trở lại ở Việt Nam, giai cấp tư sản bắt đầu hồi phục, nhưng vì không có truyền thống thống trị độc lập nên hệ tư tưởng của giai cấp này cũng không độc lập, nó phân tán và chịu đủ sự chi phối từ các tầng lớp khác, khi phải đối mặt với sự tổ chức và tính kỷ luật đã được rèn rũa bằng cách mạng của giai cấp vô sản thì nó hoàn toàn bất lực. Chính hoàn cảnh lịch sử này đã phản ánh vào tâm thức của một bộ phận tầng lớp trí thức ở Việt Nam. Trên thực tế họ là cái loa của giai cấp tư sản do đã bị tư sản hóa, do những mảnh của giai cấp tư sản ẩn náu trong họ. Sự yếu đuối bế tắc, không có tư tưởng độc lập của giai cấp tư sản được thể hiện thành những luận điệu lải nhải về sự ngu dốt thấp kém của người Việt nói chung, mặc dù đó thực ra là của giai cấp tư sản Việt Nam.

Chính người lao động Việt Nam đã chứng minh được trí tuệ và bản lĩnh của họ trong suốt nửa thế kỷ qua, những người nông dân chân lấm tay bùn, những người thợ nhem nhuốc dầu mỡ, những anh giáo làng nhút nhát đã bằng chính đôi tay của mình quật ngã những đế quốc sừng sỏ nhất của thế kỷ 20, ngay giữa thời đại phát triển thịnh vượng nhất của họ. Đó chẳng phải bản lĩnh và trí tuệ đó sao? Để làm được điều đó thì chẳng phải cần đến sự tổ chức cũng như kỷ luật sắt đá đó sao? Hãy nhớ rằng đó là kỷ luật của máu, còn cao hơn kỷ luật của ngọn roi cá đuối thời đại chiếm hữu nô lệ và kỷ luật của cái đói trong chế độ tư bản! Thật nực cười khi nói rằng người Việt Nam không biết tổ chức cũng như không có kỷ luật. Hãy nhớ rằng khi những kẻ giàu có đu càng máy bay trực thăng chạy trốn thì chính những người lao động lầm than đã xây dựng lại đất nước Việt Nam từ đống tro tàn trong cảnh bị đe dọa, bao vây, cấm vận và vẫn phải cầm khẩu súng chiến đấu. Giai cấp vô sản Việt Nam hình thành chậm hơn và thiếu sự phát triển hơn so với giai cấp vô sản ở các nước tư bản phát triển nhưng họ mang trong mình hạt nhân cách mạng mà ít có giai cấp vô sản ở các quốc gia khác có được, đó là lý do khiến nước Việt Nam vẫn còn đứng vững đến nay, ngay cả khi hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ.

Hoàn cảnh lịch sử ấy cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin đã đẩy xã hội Việt Nam vào một giai đoạn đặc biệt đáng chú ý trong lịch sử, có thể gọi nôm là "đánh võ mồm" hay "bàn phím chiến".

Sợ hãi trước trí tuệ và bản lĩnh của người lao động Việt Nam, giai cấp tư sản cũng như những kẻ tay sai của họ không ngừng tìm cách bôi nhọ người Việt Nam (nực cười thay, khi đó họ không xem bản thân là người Việt, hệt như Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại). Họ không ngừng lôi ra những cái gọi là thói hư tật xấu của người Việt Nam và so sánh với những gì gọi là văn minh, tốt đẹp của phương Tây (theo chủ nghĩa tư bản). Chuyện này đã khiến rất nhiều người bị nhầm lẫn. Nhưng hãy hình dung bằng một ví dụ đơn giản, một đứa bé đang tuổi ăn tuổi lớn, bố mẹ nó không khá giả lắm thì sẽ mua cho nó bộ quần áo rộng một chút để nó có thể mặc được lâu. Đứa bé mặc bộ quần áo rộng thùng thình thì trông sẽ rất xấu xí, không thể so sánh với những đứa bé con nhà giàu mặc bộ quần áo vừa vặn được. Nhưng những người hiểu biết liệu có chê bai chế nhạo đứa bé kia về bộ quần áo rộng và bộ dạng chả mấy đẹp đẽ của nó không? Chắc chắn không có người hiểu biết nào lại làm cái điều ngớ ngẩn đó. Xã hội Việt Nam đang phát triển rất nhanh, nó tạo ra hàng sa số những xung đột giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội, hàng sa số những vấn đề mà hiện tại không có cách nào giải quyết được, nhất là khi các điều kiện cần thiết để giải quyết chúng chưa xuất hiện. Những hiện tượng đó cho thấy xã hội Việt Nam đang chuyển mình nhanh chóng. Tranh luận và cãi cọ về những thứ đó chỉ tốn thời gian và chẳng đem lại lợi ích gì. Thậm chí chính tư duy của cái bộ phận dân cư không ngừng nguyền rủa và hạ nhục người Việt nói chung kia cũng là sản phẩm của hoàn cảnh ấy, nó thể hiện sự bất lực và thiếu hiểu biết của họ trước những xung đột xã hội và nó cũng sẽ tan biến khi những xung đột ấy chấm dứt. Ở đây lý trí của người vô sản bình thường sẽ mách bảo cho bạn biết rằng những gì bạn cần làm lúc này là chọn xem vấn đề nào giải quyết được và giải quyết vấn đề đó chứ không phải đứng đó gào thét và chửi bới cái mớ hỗn độn quanh bạn. 

Cần phải trả lời cái luận điệu "Phương Tây là văn minh và tốt đẹp, hãy học họ để văn minh và tốt đẹp chứ đừng biện minh cho bản thân bằng những vấn đề của họ" ra sao? Rất đơn giản, luận điểm đó dựa trên hai giả định, thứ nhất là phương Tây văn minh tốt đẹp hơn Việt Nam, thứ hai là những cái văn minh và tốt đẹp ấy không gắn liền với các vấn đề của họ. Điều thứ nhất bạn có thể chứng minh rằng đó là tâm thức của những kẻ nô lệ, không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy phương Tây văn minh tốt đẹp hơn và phải "Thoát Á" hay "Thoát Trung", đó là điều nhảm nhí. Cái tâm thức ấy rất điển hình của giai cấp tư sản và một bộ phận trí thức Việt Nam, họ làm trung gian giữa các đế quốc phương Tây và người Việt thế nên sự siêu việt của văn minh phương Tây đảm bảo cho địa vị đặc quyền của họ và do đó họ sẽ phủ nhận mọi sự tốt đẹp của người Việt (vì điều đó đe dọa địa vị của họ). Phần thứ hai cũng có thể chứng minh đơn giản, các vấn đề của phương Tây gắn liền với những cái gọi là văn minh và tốt đẹp của phương Tây, đi theo con đường của phương Tây (hay chủ nghĩa tư bản) là chấp nhận những thứ đó. Hãy vạch mặt giai cấp tư sản và tay sai của giai cấp tư sản bằng cách ấy. Hãy hiểu rằng cái mà giai cấp tư sản Việt Nam muốn là chủ nghĩa tư bản phương Tây, còn tất cả những gì tệ hại như thất nghiệp, bần cùng, tội phạm, tàn phá môi trường, khủng hoảng kinh tế, sự tha hóa của nhân cách thì giai cấp vô sản sẽ phải gánh chịu, thế nên chúng sẽ luôn phớt lờ những mặt trái của xã hội phương Tây để ca ngợi những thứ phù hợp với lợi ích của chúng. Hãy luôn nhớ rằng giai cấp công nhân và nông dân sẽ phải gánh chịu toàn bộ những thảm họa đó, nếu giai cấp tư sản thành công trong việc thay đổi hướng đi của đất nước này.

Friday, June 17, 2016

Chủ nghĩa tư bản và đặc trưng đồng tính

Trong bài viết “Capitalism and Gay Identity” của cuốn sách “Powers of Desire” (Những Sức Mạnh của Ham Muốn) do nhà xuất bản Monthly Review phát hành năm 1983, John D’Emilio cho rằng đặc trưng đồng tính là một sản phẩm lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản phá vỡ gia đình hạt nhân truyền thống và giải phóng các cá nhân, giúp cho những tiềm năng đồng tính của họ được giải phóng, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn luôn cần duy trì gia đình truyền thống để sinh sản và nuôi dưỡng các thế hệ công nhân mới. Do vậy, sự áp bức đối với người đồng tính là biểu hiện mâu thuẫn căn bản giữa chủ nghĩa tư bản và gia đình. Tuy nhận thức rõ sự áp bức người đồng tính là một mâu thuẫn không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản nhưng giải pháp chính trị của John D’Emilio lại mang tính cải lương, chỉ hướng tới biện pháp hỗ trợ cho cuộc sống độc lập bên ngoài gia đình để giải phóng người đồng tính. Nếu như chủ nghĩa tư bản là nguồn gốc sinh ra đồng tính với tư cách là một đặc tính xã hội thì khi chủ nghĩa tư bản kết thúc, sự tha hóa ấy cũng sẽ kết thúc, đồng tính không còn là một đặc trưng xã hội mà quay trở lại thành một hành vi cá nhân. 

Chủ Nghĩa Tư Bản và Đặc Trưng Đồng Tính 

John D’Emilio

Đâu đó trong cuốn sách này, Adrienne Rich lập luận một cách sâu sắc về đặc trưng đồng tính nữ, một người được rèn rũa trong những ràng buộc của thời thơ ấu; cô ta tách “sự tồn tại đồng tính nữ” này ra khỏi sự tiến hóa đời sống của một người đồng tính mà cô ta cho là vô tổ chức và rất phi tự nhiên. John D’Emilio sẽ không đồng ý với khẳng định về sự tách biệt lịch sử giữa đồng tính nam và đồng tính nữ, do ông, cũng giống như Allan Bérubé trong tiểu luận trước đây, coi sự hình thành của “tình dục đồng giới” ở cả hai giới là một hiện tượng cá biệt và hiện đại. Ông cho rằng, đồng tính nữ hiếm khi có mặt trong “không gian nam tính” của đường phố, công viên và quán bar bởi vì phụ nữ tiếp tục phụ thuộc vào đàn ông về mặt kinh tế: Đó là sự áp bức kinh tế, không phải là một sự tiếp nối tự nhiên, ông cũng khẳng định rằng điều đó khiến họ thầm lặng hơn ở nhà.

Cơ hội cho một cuộc sống bên ngoài gia đình, được tạo thành bởi lao động làm thuê, tạo ra một hệ quả to lớn cho cả hai giới tính. D’Emilio nhấn mạnh vai trò của người đồng tính trong việc khai phá đời sống tình dục không liên quan đến sinh đẻ thông qua sự đoạn tuyệt ngày càng lớn giữa giới tính và sự sinh đẻ, điều đó đã thay đổi ý nghĩa của tình dục đối với tất cả mọi người và trên hết là đối với phụ nữ.

Đối người đồng tính, những năm 1970 là những năm có thành tựu quan trọng. Sự giải phóng người đồng tính và giải phóng phụ nữ đã thay đổi bối cảnh tình dục của quốc gia. Hàng trăm ngàn nam và nữ đồng tính đã xuất hiện và công khai khẳng định tình dục đồng giới. Chúng ta đã bãi bỏ luật tình dục đồng giới ở một nửa số bang, bãi bỏ một phần việc cấm tuyển dụng người đồng tính cho các công việc liên bang, bảo vệ quyền công dân ở vài tá thành phố, đưa quyền đồng tính vào cương lĩnh của Đảng Dân Chủ và xóa bỏ tình dục đồng giới khói danh mục bệnh tâm lý của ngành tâm lý học. Văn hóa thứ cấp của người đồng tính được mở rộng và hiện diện ở một số thành phố lớn, các nhà nữ quyền đồng tính đi tiên phong trong việc tạo dựng những thể chế thay thế và văn hóa thay thế nhằm triển khai một viễn cảnh giải phóng tương lai.

Tuy vậy, vào những năm 1980, với sự tái nổi dậy của cánh hữu tích cực, người đồng tính phải thận trọng đối mặt với tương lai. Chiến thắng của chúng ta dường như nhỏ bé và mong manh; sự tự do tương đối của vài năm qua dường như quá ngắn ngủi để có thể trở thành vĩnh viễn. Tại một số phần của cộng đồng người đồng tính, cảm giác định mệnh đang lớn dần: tương tự với nước Mỹ của McCarthy, khi  “những kẻ đồi trụy tình dục” là mục tiêu đặc biệt của cánh hữu và Đức Quốc Xã, nơi mà người đồng tính bị đưa đến các trại tập trung, đã xuất hiện thường xuyên. Khắp mọi nơi đều có cảm giác rằng chúng ta cần có chiến lược mới để bảo vệ thành quả và tiếp tục tiến về phía trước.

Tôi tin rằng một lý thuyết mới, chính xác hơn, về lịch sử đồng tính phải là một phần của công việc chính trị này. Khi phong trào giải phóng người đồng tính bắt đầu vào cuối những năm 1960, người đồng tính không có lịch sử mà chúng ta có thể sử dụng để minh họa cho mục tiêu và chiến lược của chúng ta. Vào những năm tiếp đó, trong quá trình xây dựng phong trào trong sự thiếu kiến thức về lịch sử, chúng ta đã tạo ra một huyền thoại. Lịch sử huyền thoại này bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân, mà chúng ta hồi tưởng lại vào theo thời gian. Ví dụ, hầu hết người đồng tính vào những năm 1960 khám phá ra khát vọng tình dục của họ lần đầu tiên trong sự cô lập, không được những người khác biết đến và không có nguồn nào nhắc đến cũng như hiểu được cảm giác của họ. Từ kinh nghiệm này, chúng ta tạo ra huyền thoại về sự câm lặng, vô hình và cô lập, như là đặc tính cơ bản của cuộc sống đồng tính trong quá khứ cũng như hiện tại. Hơn nữa, do chúng ta đối mặt với rất nhiều luật lệ, chính sách công và niềm tin văn hóa đầy áp bức nên chúng ta đã đưa những điều đó vào hình dung về quá khứ sâu thẳm: trước khi người đồng tính được giải phóng, người đồng tính luôn là nạn nhân của sự áp bức có hệ thống, không phân biệt và khủng khiếp.

Những huyền thoại đó đã giới hạn triển vọng chính trị của chúng ta. Ví dụ, chúng đã đóng góp vào việc quá lệ thuộc vào chiến lược công khai – nếu tất cả người đồng tính ở Mỹ công khai, sự áp bức đối với người đồng tính sẽ chấm dứt – và cho phép chúng ta bỏ qua các phương thức được thể chế hóa mà theo đó tình dục đồng giới và tình dục khác giới được tái tạo. Vào lúc đó, chúng đã tạo một sự tuyệt vọng hoàn toàn, nhất là vào những thời điểm như hiện tại: Làm sao chúng ta có thể giải thích được sự áp bức phổ biến và không thay đổi đối với người đồng tính?

Có một huyền thoại lịch sử khác gần như được chấp nhận một cách phổ biến trong phong trào đồng tính, đó là huyền thoại và “tình dục đồng giới vĩnh cửu”. Lập luận này diễn ra như sau: người đồng tính luôn tồn tại và sẽ luôn tồn tại. Chúng ta có mặt ở mọi nơi; không chỉ hiện tại mà còn khắp trong lịch sử, trong mọi xã hội và mọi thời đại. Huyền thoại này có vai trò là một chức năng chính trị tích cực vào những năm đầu của phong trào giải phóng người đồng tính. Vào đầu những năm 1970, khi chúng ta chống lại một lý tưởng hoặc phủ nhận sự tồn tại của chúng ta hoặc coi chúng ta là những kẻ bị bệnh tâm thần trái hay phản tự nhiên, điều đó đã thúc đẩy sự khẳng định rằng “chúng ta ở khắp mọi nơi.” Nhưng những năm gần đây, điều đó đã giam hãm chúng ta cũng giống như nhiều lý thuyết y khoa về tình dục đồng giới và trói chặt phong trào của chúng ta vào một vị trí.

Ở đây, tôi muốn bác bỏ huyền thoại này. Tôi muốn khẳng định rằng người đồng tính đã không luôn luôn tồn tại. Trái lại, họ là sản phẩm của lịch sử và xuất hiện trong một thời đại lịch sử nhất định. Sự trỗi dậy của họ gắn liền với những quan hệ của chủ nghĩa tư bản; đó là sự phát triển lịch sử của chủ nghĩa tư bản – cụ thể hơn nữa là hệ thống lao động tự do – thứ đã cho phép một số lượng lớn đàn ông và đàn bà vào cuối thế kỷ 20 tự gọi mình là đồng tính, tự coi bản thân là một phần của cộng đồng có những đàn ông và phụ nữ tương tự và tổ chức về chính trị dựa trên đặc tính đó1. Cuối cùng, tôi muốn gợi ý một số bài học chính trị mà chúng ta có thể rút ra được từ quan điểm lịch sử này.

Mối quan hệ giữa hệ thống lao động tự do của chủ nghĩa tư bản và tình dục đồng giới là gì? Trước hết, hãy để tôi tái hiện lại một số đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa tư bản, công nhân là người lao động “tự do” theo hai nghĩa. Chúng ta tự do tìm kiếm công việc. Chúng ta có năng lực lao động và có tự do bán sức lao động cho bất cứ ai sẵn lòng mua để nhận lương. Chúng ta cũng được giải phóng khỏi việc sở hữu mọi thứ, ngoại trừ sức lao động của bản thân. Hầu hết chúng ta không sở hữu đất đai hay công cụ để sản xuất ra những gì mà chúng ta cần, trái lại phải làm việc để kiếm sống. Nếu chúng ta tự do bán sức lao động theo nghĩa tích cực, chúng ta cũng giải phóng, theo nghĩa tiêu cực, khỏi mọi sự lựa chọn khác. Sự biện chứng này – sự tác động qua lại thường xuyên giữa bóc lột và một mức độ độc lập nhất định – đã tiết lộ toàn bộ lịch sử của những người sống dưới chủ nghĩa tư bản.

Khi tư bản – tiền được sử dụng để tạo ra nhiều tiền hơn – mở rộng thì hệ thống lao động tự do cũng được mở rộng. Tư bản mở rộng theo nhiều cách. Thông thường, nó mở rộng tại cùng một nơi, chuyển hóa các hãng nhỏ thành hãng lớn hơn, nhưng nó cũng mở rộng bằng cách chiếm lấy những lĩnh vực sản xuất mới: ví dụ như may quần áo hay nướng bánh mỳ. Cuối cùng, tư bản mở rộng về mặt địa lý. Ở Hoa Kỳ, chủ nghĩa tư bản ban đầu bắt nguồn ở vùng Đông Bắc, vào thời mà chế độ chiếm hữu nô lệ còn là hệ thống thống trị ở miền Nam và khi xã hội phi tư bản của người bản địa vẫn còn chiếm giữ nửa phía tây của lục địa. Vào thế kỷ 19, tư bản mở rộng từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương và vào thế kỷ 20, tư bản Hoa Kỳ đã xâm chiếm hầu như mọi nơi trên thế giới.

Sự bành trướng của tư bản và sự phổ biến của lao động làm thuê đã tạo ra một sự chuyển hóa sâu sắc trong cấu trúc và chức năng của gia đình hạt nhân, lý tưởng về đời sống gia đình và ý nghĩa của quan hệ tình dục khác giới. Chính những sự thay đổi trong gia đình đó đã gắn liền với sự xuất hiện của sự chung sống đồng tính.

Thực dân da trắng vào thế kỷ 17 ở New England đã xây dựng các làng xoay quanh kinh tế hộ gia đình, được tạo thành từ các đơn vị gia đình chủ yếu dựa trên sự tự cấp tự túc, độc lập và gia trưởng. Đàn ông, đàn bà và trẻ em canh tác trên mảnh đất mà người đàn ông chủ gia đình sở hữu. Mặc dù có sự phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà song gia đình thực sự là một đơn vị sản xuất có sự phụ thuộc lẫn nhau: sự sống còn của mỗi thành viên phụ thuộc vào sự hợp tác của tất cả mọi người. Nhà là nơi làm việc, tức là nơi phụ nữ chế biến các nông sản thô thành thực phẩm cho sự tiêu dùng hàng ngày, là nơi họ tạo ra vải, xà phòng và nến, cũng là nơi chồng, vợ và con cái làm việc cùng nhau để sản xuất ra sản phẩm mà họ tiêu dùng.

Vào thế kỷ 19, hệ thống sản xuất theo hộ gia đình suy tàn. Ở vùng Đông Bắc, khi tư bản thương nhân đầu tư tiền tích lũy được bằng việc buôn bán vào việc sản xuất hàng hóa, lao động làm thuê bắt đầu trở nên phổ biến hơn. Đàn ông và đàn bà bị kéo ra khỏi nền kinh tế gia đình tự cấp tự tục của thời thuộc địa và ném vào hệ thống lao động tự do của tư bản. Đối với phụ nữ vào thế kỷ 19, việc làm thuê hiếm khi kéo dài đến sau khi kết hôn; đối với đàn ông thì điều đó trở thành tình cảnh vĩnh viễn.

Gia đình không còn là đơn vị sản xuất độc lập. Tuy không còn độc lập nhưng thành viên của gia đình vẫn tiếp tục phụ thuộc qua lại lẫn nhau. Do chủ nghĩa tư bản vẫn chưa mở rộng quá nhiều, do nó vẫn chưa chiếm lấy – hay xã hội hóa – việc sản xuất các vật phẩm tiêu dùng, phụ nữ vẫn thực hiện lao động sản xuất thiết yếu tại nhà. Nhiều gia đình không còn sản xuất lúa mì nhưng người vợ vẫn tiếp tục làm bánh mỳ từ bột mà họ mua bằng tiền lương của chồng; hoặc, khi họ mua sợi hay vải, họ vẫn tiếp tục may quần áo cho gia đình. Vào giữa những năm 1800, chủ nghĩa tư bản đã phá hủy nền kinh tế tự cấp tự túc của nhiều gia đình nhưng không phá hủy sự phụ thuộc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình.

Sự chuyển hóa từ kinh tế hộ gia đình thành một nền kinh tế lao động tự do của chủ nghĩa tư bản trưởng thành diễn ra rất chậm chạp, kéo dài hơn hai thế kỷ. Cuối cùng vào năm 1920, 50% dân Mỹ sống trong các cộng đồng có ít hơn 2.500 dân. Đại đa số người da màu vào đầu thế kỷ 20 đều sống bên ngoài nền kinh tế lao động tự do, trong một hệ thống cấy rẽ và lĩnh canh dựa trên gia đình. Đối với hàng triệu người Mỹ, không chỉ có canh tác độc lập là sinh kế mà ngay cả ở những thành phố nhỏ thì phụ nữ vẫn tiếp tục nuôi và chế biến thực phẩm, may quần áo và tham gia vào những loại hình sản xuất gia đình khác.

Nhưng đối với những người cảm thấy sức nặng của sự thay đổi đó, gia đình có ý nghĩa mới, giống như là một đơn vị tình cảm, một thể chế không sản xuất ra vật phẩm mà tạo ra sự thỏa mãn về tình cảm và hạnh phúc. Vào những năm 1920, trong tầng lớp trung lưu da trắng, gia đình được coi là một phương tiện để đàn ông và đàn bà tạo ra sự thỏa mãn, cùng nhau cải thiện các mối quan hệ và tạo ra môi trường nuôi dưỡng con cái. Gia đình trở thành một môi trường cho “đời sống cá nhân”, khác biệt hoàn toàn và tách biệt khỏi thế giới công cộng của việc làm và sản xuất2.

Ý nghĩa của quan hệ tình dục dị giới cũng thay đổi. Ở thuộc địa New England, tỷ lệ sinh trung bình là 7 trẻ em trên một phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ. Đàn ông và đàn bà cần lao động của trẻ em. Sản xuất ra thế hệ kế cận là cần thiết để sinh tồn cũng giống như sản xuất lúa mì. Tình dục bị khai thác cho việc sinh đẻ. Thanh giáo không hoan nghênh tình dục dị giới mà không kết hôn; họ lên án mọi quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và không phân biệt giữa gian dâm đồng giới và khác giới.

Tuy vậy, vào những năm 1970, tỷ lệ sinh đẻ đã giảm xuống còn 2. Với ngoại lệ là sự bùng nổ trẻ em sau Thế Chiến II, sự suy giảm đã diễn ra liên tục trong hai thế kỷ, cùng với sự mở rộng của quan hệ sản xuất tư bản. Điều đó diễn ra ngay cả khi các biện pháp tránh thai và phá thai bị ngăn cản một cách có hệ thống. Sự suy giảm đã diễn ra trong mọi bộ phận của dân cư – các gia đình thành thị cũng như nông thôn, da trắng cũng như da màu, các sắc tộc và người Anglo-Saxon Tin Lành, tầng lớp trung lưu và giai cấp công nhân.

Khi lao động làm thuê phổ biến và sản xuất được xã hội hóa thì việc giải phóng tình dục khỏi sự “bắt buộc” để sinh đẻ trở thành khả thi. Về mặt lý tưởng, sự biểu lộ tình dục khác giới trở thành phương tiện để tạo ra sự gần gũi, thúc đẩy sự hạnh phúc và trải nghiệm sự thỏa mãn. Khi tước đoạt kinh tế độc lập của hộ gia đình và thúc đẩy sự tách rời giữa tình dục với sinh đẻ, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những điều kiện cho phép một số đàn ông và đàn bà tổ chức đời sống cá nhân xoay quanh sự hấp dẫn tình dục/cảm xúc đối với giới tính của bản thân. Điều đó khiến cho việc hình thành các cộng đồng người đồng tính, gần đây hơn là chính trị dựa trên đặc tính tình dục, trở nên khả thi.

Bằng chứng từ các hồ sơ tòa án và các bài giảng đạo nhà thờ của New England thời thuộc địa đã cho thấy hành vi tình dục đồng giới của nam giới và nữ giới đã xuất hiện từ thế kỷ 17. Tuy vậy, hành vi tình dục đồng giới khác với đặc trưng tình dục đồng giới. Đơn giản là không có “không gian xã hội” trong hệ thống sản xuất thuộc địa để đàn ông và đàn bà trở thành đồng tính. Sự sinh tồn được xây dựng xoay quanh sự tham gia vào một gia đình hạt nhân. Có một số hành động tình dục đồng giới nhất định – tình dục đồng giới của nam, “tình dục” giữa nữ giới với nhau – trong đó các cá nhân tham gia, nhưng gia đình phổ biến đến mức xã hội thuộc địa thiếu cả khái niệm về tình dục đồng giới nam hay đồng tính nữ để mô tả một cá nhân. Cũng có khả năng là một số đàn ông và đàn bà cảm thấy sự hấp dẫn của người cùng giới tính mạnh hơn là người khác giới – trên thực tế, một số vụ án thời thuộc địa đã nhắc đến những người đàn ông chìm đắm trong sự hấp dẫn “trái tự nhiên” của họ - nhưng người ta không thể thể hiện điều đó như là một lối sống. Thuộc địa Massachusetts thậm chí còn có luật cấm những người trưởng thành chưa kết hôn sống bên ngoài gia đình3.

Vào nửa sau của thế kỷ 19, tình hình đã thay đổi một cách đáng kể khi hệ thống lao động tự do của tư bản đã chiếm ưu thế. Chỉ khi các cá thể bắt đầu sống bằng lao động làm thuê, thay vì là một thành viên trong gia đình phụ thuộc lẫn nhau, khát vọng tình dục đồng giới mới có khả năng đồng nhất với đặc trưng cá nhân – một đặc trưng dựa trên khả năng sống bên ngoài gia đình với tình dục khác giới và tạo ra một đời sống cá nhân dựa trên sự hấp dẫn giới tính của người đồng giới. Vào cuối thế kỷ, một tầng lớp nam và nữ giới thừa nhận sự quan tâm tình dục đồng giới đã xuất hiện, họ coi đó là đặc điểm khiến họ tách khỏi đa số và tìm kiếm những người giống như họ. Những người đồng tính ban đầu xuất thân từ một phạm xã hội rộng: viên chức và người kinh doanh, nhân viên của hàng bách hóa và giáo sư trường đại học, người điều hành nhà máy, bộ trưởng, luật sư, đầu bếp, nội trợ, những người lang thang và những người giàu có về hưu: nam giới và phụ nữ, da màu và da trắng, dân nhập cư và dân bản địa.

Trong thời kỳ này, người đồng tính đã bắt đầu sáng tạo ra nhiều cách gặp gỡ nhau và xây dựng một cuộc sống nhóm. Vào đầu thế kỷ 20, các thành phố lớn đã có các quán bar đồng tính. Người đồng tính tụ tập ở các thành phố gần sông hay biển, như Riverside Drive ở thành phố New York và Lafayette Park ở Washington. Ở St. Louis và thủ đô quốc gia, chợ tình thường niên đã thu hút một số lượng lớn đồng tính da màu. Nhà tắm công cộng và YMCA trở thành điểm tụ tập cho giới đồng tính nam. Giới đồng tính nữ thành lập những hiệp hội văn chương và các câu lạc bộ cá nhân. Một số phụ nữ thuộc giai cấp công nhân “đóng vai” như nam giới để nhận được công việc có lương cao hơn và sống cùng với những phụ nữ khác – cặp đồng tính nữ thường xuất hiện bên ngoài như là chồng và vợ. Trong số các khoa của trường đại học nữ, tại các khu nhà ký túc xá cũng như tại các hiệp hội và câu lạc bộ nghề nghiệp mà phụ nữ lập ra, người ta có thể tìm thấy những mối quan hệ thân mật suốt đời được một mạng lưới các bạn đồng tính nữ hỗ trợ. Vào những năm 1920 và 1930, các thành phố lớn như New York và Chicago đã có các quán bar cho đồng tính nữ. Hình mẫu sinh tồn đó này có thể phát triển là do chủ nghĩa tư bản cho phép các cá thể sinh tồn bên ngoài phạm vi gia đình4.

Đồng thời, những định nghĩa lý thuyết về hành vi tình dục đồng giới cũng thay đổi. Các bác sĩ phát triển nhiều lý thuyết về tình dục đồng giới, coi nó như là một điều kiện, một thứ gì đó có sẵn trong cá nhân, một phần trong “bản chất tự nhiên” của anh ta hay cô ta. Những lý thuyết này không phản ánh sự đột phá khoa học, làm sáng tỏ những lĩnh vực chưa từng được khám phá của kiến thức; trái lại, chúng là một phản ứng mang tính hệ tự tưởng đối với phương thức tổ chức đời sống cá nhân mới. Sau đó, sự phổ biến của các mô hình y khoa lại ảnh hưởng đến nhận thức của nữ giới và nam giới có ham muốn tình dục đồng giới, do vậy họ xác định bản thân bằng đời sống tình dục của họ5.

Những loại hình đặc trưng đồng tính mới và hình mẫu về đời sống nhóm cũng phản án sự khác biệt giữa những người đó theo khía cạnh giới tính, chủng tộc và giai cấp, vốn đã rất phổ biến trong các xã hội tư bản. Ví dụ, đối với người da trắng, đồng tính nam có truyền thống thể hiện công khai hơn đồng tính nữ. Điều này bắt nguồn từ sự phân tách giữa phạm vi nam giới công khai và phạm vi nữ giới riêng tư. Đường phố, công viên và quán bar, đặc biệt là ban đêm, đều là “không gian nam giới”. Mặc dù vậy sự hiện diện rõ ràng hơn của nam đồng tính da trắng cũng phản ánh số lượng lớn của họ. Nghiên cứu của Kinsey vào những năm 1940, 1950 đã cho thấy có nhiều nam giới đồng tính hơn nữ giới đồng tính, như tôi đã khẳng định, một tình hình bắt nguồn từ sự thật là chủ nghĩa tư bản đã lôi kéo nhiều nam giới vào lực lượng lao động hơn nữ và với mức lương cũng cao hơn. Đàn ông có thể dễ dàng tạo dựng đời sống cá nhân độc lập với sự ràng buộc của giới tính khác, trong khi phụ nữ có vẻ như vẫn phụ thuộc vào đàn ông về mặt kinh tế. Kinsey cũng phát hiện ra sự tương quan mạnh giữa số năm đi học và hành vi đồng tính nữ. Phụ nữ da trắng tốt nghiệp đại học có khả năng tự chủ hơn nhiều so với những chị em thuộc giai cấp công nhân nên có khả năng sinh tồn dễ dàng hơn mà không cần mối quan hệ thân mật với nam giới6.

Đối với công nhân nhập cư vào đầu thế kỷ 20, mạng lưới huyết thống chặt chẽ và sự trung thành với gia đình về mặt đạo đức đã giới hạn chủ quyền cá nhân khiến cho họ khó có thể theo đuổi sự đồng tính. Trái lại, vì những lý do chưa rõ ràng, các cộng đồng da màu thành thị dường như lại tương đối khoan dung đối với sự đồng tính. Sự phổ biến của những bài hát với bối cảnh người đồng tính vào những năm 1920, 1930 – “B. D. Woman”, “Prove It on Me”, Sissy Man”, “Fairey Blues” – đã cho thấy sự cởi mở về sự biểu hiện đồng tính cùng với số lượng da trắng lớn hơn. Đối với nam giới ở nông thông miền Tây vào những năm 1940, Kinsey phát hiện ra ảnh hưởng rộng rãi của hành vi tình dục đồng giới nhưng trái với đàn ông ở các thành phố lớn, có rất ít ý thức về đặc tính đồng tính. Ngay cả khi chủ nghĩa tư bản tạo ra sự ảnh hưởng thống trị bằng cách chuyển hóa hoàn toàn các cá thể thành lao động làm thuê và tách họ ra khỏi các cộng đồng truyền thống thì các nhóm người khác nhau cũng chịu ảnh hưởng theo các cách khác nhau7.

Quyết định của những người đàn ông và đàn bà cụ thể hành động theo sự ưa thích tình dục/cảm xúc về đồng tính, cũng với nhận thức mới về việc sự ưa thích mới khiến họ khác biệt, đã dẫn tới sự hình thành của văn hóa thứ cấp đô thị của người đồng tính. Tuy vậy, ít nhất vào những năm 1930, văn hóa thứ cấp này vẫn chỉ là sơ khai, thiếu ổn định và khó thấy. Làm sao cộng đồng đồng tính phức tạp và được tổ chức tốt lại xuất hiện vào thời phong trào giải phóng đồng tính nổ ra? Câu trả lời được tìm thấy trong Thế Chiến II, vào thời gian mà sự thay đổi tích lũy của nhiều thập kỷ đã hợp nhất thành một trạng thới về mặt chất.

Chiến tranh đã phá vỡ các hình mẫu truyền thống về quan hệ giới tính và tình dục, cũng như tạm thời tạo ra một tình trạng tình dục mới thuận lợi cho sự thể hiện tình dục đồng giới. Chiến tranh đã tách hành triệu thanh thiếu nữ, những người mà đặc tính tình dục chỉ vừa mới hình thành, ra khỏi gia đình, khỏi thị trấn và thành phố nhỏ, khỏi môi trường tình dục khác giới của gia đình và ném họ vào hoàn cảnh thuần nhất về giới tính – như là lính, nữ binh và nữ tình nguyện viên hải quân, trong những căn nhà đồng giới cho nữ công nhân, những người ở lại đó để tìm việc làm. Chiến tranh đã giải phóng hàng triệu đàn ông và phụ nữ khỏi những thể chế coi tình dục đồng giới là bình thường. Đối với những nam giới và phụ nữ vốn đồng tính sẵn thì đây là cơ hội để gặp được những người giống như họ. Những người khác trở thành đồng tính do chiến tranh đã mang lại cho họ sự tự do tạm thời trong việc khám phá tình dục.

Ví dụ, Lisa Ben đã công khai trong chiến tranh. Cô rời khỏi thị trấn nhỏ ở California, nơi cô đã lớn lên, đến Los Angeles để tìm việc làm và sống trong một căn nhà trọ dành cho phụ nữ. Tại đây, lần đầu tiên cô gặp các nữ đồng tính, họ đưa cô tới quán bar dành cho người đồng tính và giới thiệu cô với những phụ nữ đồng tính khác. Donald Vining là một thanh niên có nhiều ham muốn tình dục và một ít trải nghiệm đồng giới. Anh ta chuyển đến thành phố New York trong thời kỳ chiến tranh và làm việc tại một cơ sở lớn của Hiệp Hội Thanh Niên Thiên Chúa Giáo (YMCA). Nhật ký của anh ta cho thấy nhiều cuộc phiêu lưu tình dục với binh lính, thủy thủ, lính thủy và công dân tại nơi mà anh làm việc, cũng như tại các câu lạc bộ dành cho nam giới ở nơi mà anh sống, ở công viên, quán bar và rạp chiếu phim. Nhiều binh lính đóng quân ở các thành phố cảng như New York, tại các YMCA giống như nơi Vining làm việc. Trong các câu chuyện truyền miệng của anh ta về đàn ông đồng tính ở San Francisco, quãng những năm 1940, Allan Bérubé đã phát hiện ra rằng những năm chiến tranh rất quan trọng đối với sự hình thành của cộng đồng đồng tính nam tại thành phố. Những nơi khác như San Jose, Denver và thành phố Kansas đều có quán bar đồng tính đầu tiên vào những năm 1940. Ngay cả một số áp bức nặng nề cũng có thể những tác dụng phụ tích cực. Pat Bond, một nữ đồng tính đến từ Davenport Iowa tham gia nữ binh vào những năm 1940. Sau khi bị bắt trong một cuộc thanh trừng loại ngũ hàng trăm nữ đồng tính ở Thái Bình Dương, cô đã không trở lại Iowa. Cô ở lại San Francisco và trở thành một người thuộc cộng đồng đồng tính nữ. Có bao nhiêu nam giới và phụ nữ đã có kinh nghiệm tương tự? Có bao nhiêu thành phố chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng người đồng tính?9

Những người đồng tính nam và nữ vào những năm 1940 là những người tiên phong. Quyết định hành động theo ham muốn của họ đã tạo thành nền móng cho văn hóa thứ cấp đô thị của giới đồng tính nam và nữ. Suốt những năm 1950 và 1960, văn hóa thứ cấp của giới đồng tính đã phát triển và ổn định nên nhiều người công khai và sau đó có thể dễ dàng thấy những người đồng hơn so với quá khứ. Báo chí và tạp chí xuất bản các bài báo mô tả đời sống của đồng tính nam. Hàng trăm tiểu thuyết về đồng tính nữ đã được xuất bản10. Các nhà phân tâm học phàn nàn về sự giải tỏa mới, tức là những bệnh nhân đồng tính nam của họ tìm được bạn tình. Văn hóa thứ cấp của người đồng tính không chỉ được thấy ở những thành phố lớn nhất. Các quán bar đồng tính cũng xuất hiện ở những nơi như Worcester, Massachusetts và Buffalo, New York; ở Columbia, Nam Carolina và Des Moines, Iowa. Đời sống đồng tính trong những năm 1950 và 1960 trở thành hiện tượng khắp quốc gia. Vào thời cuộc bạo loạn Stonewall ở thành phố New York vào năm 1969 – sự kiện châm ngòi cho phong trào giải phóng đồng tính – hoàn cảnh của chúng ta khó có thể giữ im lặng, vô hình và cô lập. Một phong trào giải phóng quần chúng quy mô lớn có thể được hình thành chỉ trong một đêm là bởi vì các cộng đồng đồng tính nam và nữ đã tồn tại.

Mặc dù các cộng đồng đồng tính là tiền đề cho phong trào quy mô lớn song sự áp bức đối với người đồng tính nam và đồng tính nữ là sức mạnh khiến cho phong trào tồn tại. Khi văn hóa thứ cấp mở rộng và phát triển rõ ràng hơn vào cuối thời kỳ Thế Chiến II, sự áp bức của nhà nước được gia tốc, trở thành hệ thống và bao quát hơn. Cánh hữu lên án “những kẻ sa đọa tình dục” dưới thời McCarthy. Eisenhower ban hành lệnh cấm tuyển dụng người đồng tính trong chính quyền liên bang và nhà thầu của chính quyền. Các vụ thanh trừng nhằm loại bỏ người đồng tính ra khỏi quân đội được tiến hành dữ dội. FBI thiết lập một hệ thống giám sát rộng rãi đối với các nơi tụ họp của giới đồng tính cũng như các tổ chức đồng tính, như Con Gái Của Bilitis và Hiệp Hội Mattachine. Bưu điện theo dõi thư tín của người đồng tính và chuyển các bằng chứng về hoạt động đồng tính cho chủ lao động. Các đội cảnh sát đạo đức xông vào nhà riêng, càn quét các quán bar của người đồng tính, cài bẫy người đồng tính nam ở nơi công cộng và tổ chức các cuộc khủng bố ở địa phương. Sự nguy hiểm của việc trở thành người đồng tính tăng lên ngay khi khả năng trở thành đồng tính rộng mở hơn. Sự giải phóng người đồng tính là một sự phản ứng lại mâu thuẫn này.  

Mặc dù người đồng tính đã giành được thắng lợi quan trọng vào những năm 1970 và mở ra một không gian xã hội an toàn cho sự tồn tại của người đồng tính song chúng ta khó có thể khẳng định rằng đã đánh một đòn chí mạng vào tình dục dị giới và sự thù ghét đối với tình dục đồng giới. Người ta vẫn còn có thể khẳng định rằng sự áp bức đối với người đồng tính chỉ thay đổi vị trí, chuyển từ phạm vi nhà nước sang một lãnh địa bạo lực ngoài pháp luật dưới dạng bạo hành công khai đối với người đồng tính. Khi phong trào của chúng ta phát triển, chúng ta đã tạo ra một phản lực có nguy cơ xóa sạch mọi thành quả. Đáng chú ý là phe đối lập Cánh Hữu Mới đã thay đổi bề ngoài thành một phong trào “ủng hộ gia đình”. Tại sao chủ nghĩa tư bản, có cấu trúc khiến cho sự xuất hiện của đặc tính đồng tính và sự hình thành của cộng đồng đồng tính đô thị trở nên khả thi, dường như lại không thể chấp nhận người đồng tính trong lòng nó? Tại sao tình dục đồng giới và sự thù ghét người đồng tính lại có thể kháng cự là cuộc tấn công?

Tôi cho rằng câu trả lời có thể tìm thấy trong quan hệ mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và gia đình. Một mặt, như tôi đã khẳng định trước đây, chủ nghĩa tư bản phá hủy hoàn toàn cơ sở vật chất của gia đình hạt nhân bằng cách tước bỏ các chức năng kinh tế đã tạo thành mối liên hệ giữa các thành viên gia đình. Khi những người trưởng thành bị lôi cuốn vào hệ thống lao động tự do nhiều hơn và tư bản mở rộng phạm vi của nó cho tới khi nó biến hầu hết sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta cần cho sự sinh tồn thành hàng hóa, những sức mạnh đã kết hợp nam giới và nữ giới thành gia đình và giữ họ ở đó đã bị suy yếu. Mặt khác, hệ tư tưởng của xã hội tư bản trân trọng gia đình như là nguồn của tình yêu, tình thương và sự an toàn cảm xúc, là nơi mà nhu cầu về mối quan hệ nhân bản gần gũi, ổn định của chúng ta được thỏa mãn.

Việc gia đình hạt nhân trở thành thứ vượt trội trong phạm vi đời sống cá nhân không phải là ngẫu nhiên. Mọi xã hội cần các cấu trúc tái sản xuất và nuôi dưỡng trẻ em, nhưng khả năng đó không giới hạn trong gia đình hạt nhân. Mặc dù vậy, gia đình tư nhân hóa phù hợp với các quan hệ sản xuất tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã xã hội hóa sản xuất đồng thời vẫn đảm bảo rằng việc sản phẩm của lao động được xã hội hóa thuộc về chủ sở hữu tư nhân. Theo nhiều cách, việc nuôi dưỡng trẻ em cũng đã được xã hội hóa một cách tiến bộ trong hai thế kỷ qua, với trường học, truyền thông, các nhóm đồng đẳng và nhân viên làm thuê đảm nhiệm những chức năng trước đây thuộc về cha mẹ. Tuy vậy, xã hội tư bản đảm bảo rằng tái sản xuất và nuôi dưỡng trẻ em là công việc riêng tư, trẻ em “thuộc về” cha mẹ, những người thực thi quyền chủ sở hữu. Về mặt lý tưởng, chủ nghĩa tư bản đưa con người tới gia đình dị tính: mỗi thế hệ đến tuổi trưởng thành đều mang trong mình mô hình quan hệ cá nhân và thân mật dị tính. Về mặt vật chất, chủ nghĩa tư bản làm suy yếu các mối quan hệ giữ cho gia đình cố kết khiến cho thành viên của gia đình cảm thấy sự thiếu ổng định gia tăng tại nơi mà họ kỳ vọng sẽ có hạnh phúc và an toàn về cảm xúc.

Do vậy, khi chủ nghĩa tư bản phá vỡ nền tảng vật chất của đời sống gia đình, người đồng tính và những nhà nữ quyền dị tính trở thành kẻ chịu nạn cho sự bất ổn xã hội của hệ thống.

Phân tích này, nếu thuyết phục, có nhiều tác động đối với chúng ta hiện nay. Nó có thể tác động đến nhận thức của chúng ta về đặc trưng, sự định hình các mục tiêu chính trị cũng quyết định của chúng ta về chiến lược.

Tôi đã khẳng định rằng đặc trưng đồng tính và các cộng đồng hình thành một cách lịch sử, kết quả của quá trình phát triển trải dài qua nhiều thế hệ của chủ nghĩa tư bản. Hệ quả tất yếu của khẳng định này, chúng ta không phải là một thiểu số xã hội cố định cấu thành một phần nhất định của dân cư trong mọi thời đại. Có nhiều người như chúng ta hơn một trăm năm trước đây, có nhiều người như chúng ta hơn bốn mươi năm trước đây. Có thể là sẽ có nhiều người đồng tính hơn trong tương lai. Những khẳng định của người đồng tính và không đồng tính về sự cố định của thiên hướng tình dục được đưa ra trong thời đại gần đây, hay khẳng định rằng số lượng lớn người đồng tính công khai trong xã hội, truyền thông và trường học sẽ không có ảnh hưởng tới đặc tính tình dục của giới trẻ, tất cả đều là sai. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra các điều kiện vật chất cho tình ham muốn tình dục đồng giới để thể hiện bản thân của con người như là thành phần cốt lõi trong đời sống của một số cá thể; giờ đây, các phong trào chính trị của chúng ta đang thay đổi nhận thức, xây dựng các điều kiện tư tưởng khiến cho người dân dễ dàng đưa ra lựa chọn đó.

Khẳng định này xác nhận nỗi sợ hãi tồi tệ nhất và phát ngôn điên dại nhất của những đối thủ chính trị của chúng ta. Nhưng phản ứng của chúng ta phải là chống lại niềm tin ẩn giấu phía sau việc cho rằng quan hệ đồng tính là xấu, một sự lựa chọn thứ hai nghèo nàn. Chúng ta phải không rơi vào sự phòng ngự mang tính cơ hội cho rằng xã hội không cần lo lắng về việc khoan dung chúng ta, do chỉ có người đồng tính trở thành đồng tính. Tốt nhất, một phân tích nhóm thiểu số và một chiến lược về quyền công dân đặt ra cho những người đã đồng tính sẵn. Hãy để cho thanh niên hiện nay – người đồng tính ngày mai – mang những mô hình dị tính mà họ có thể cần cả đời để đoạn tuyệt.

Tôi cũng khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự tách biệt tình dục khỏi sinh đẻ. Ham muốn tình dục của con người không còn bị thúc ép để tái tạo một cách cưỡng bách, để sinh đẻ. Người đồng tính mang trong mình tiềm năng của sự phân tách đó, từ khi quan hệ đồng tính của chúng ta hoàn toàn nằm ngoài khuôn khổ của sự sinh đẻ. Sự chấp nhận lựa chọn tình dục của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ xã hội sẵn sàng công nhận sự thể hiện tình dục là một dạng vui chơi, tích cực và nâng cao đời sống. Phong trào của chúng ta có thể bắt đầu như là nỗ lực của một “thiểu số”, nhưng điều mà chúng ta cố gắng “giải phóng” là một khía cạnh của đời sống cá nhân của tất cả mọi người – sự thể hiện tình dục11.

Cuối cùng, tôi cho rằng mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và gia đình là mâu thuẫn căn bản. Một mặt, chủ nghĩa tư bản thường xuyên làm suy yếu nền tảng vật chất của đời sống gia đình, khiến cho các cá thể có thể sống bên ngoài gia đình và đặc trưng đồng tính có thể phát triển. Mặt khác, nó lại cần phải dồn nam giới và nữ giới vào gia đình, ít nhất là đủ lâu để tái tạo ra thế hệ công nhân mới. Việc gia đình trở thành sự nổi bật về tư tưởng đảm bảo rằng xã hội tư bản sẽ tái sản xuất ra không chỉ trẻ em mà cả tình dục khác giới và sự thù ghét tình dục đồng giới. Theo nghĩa nổi bật nhất, chủ nghĩa tư bản là vấn đề12.

Làm sao chúng ta, nạn nhân chính trị của sự bất ổn do chủ nghĩa tư bản tạo ra, tránh được sự đổ lỗi? Làm sao chúng ta có thể nắm lấy mối quan hệ mâu thuẫn này và sử dụng nó để thúc đẩy sự giải phóng?

Người đồng tính tồn tại trên lãnh địa xã hội nằm bên ngoài những ràng buộc của gia đình hạt nhân dị tính. Các cộng đồng của chúng ta đã hình thành trong không gian xã hội đó. Sự sinh tồn cũng như sự giải phóng của chúng ta phụ thuộc vào khả năng bảo vệ và mở rộng lãnh địa của chúng ta, không chỉ cho bản thân chúng ta mà cho tất cả mọi người. Điều đó có nghĩa là ủng hộ những chủ đề mở rộng cơ hội sống bên ngoài đơn vị gia đình hạt nhân dị tính truyền thống: những chủ đề như sự phá thai hợp pháp và phê chuẩn Tu Chính Án Quyền Bình Đẳng, hoạt động ủng hộ người da màu và phụ nữ, nhà trẻ công và các dịch vụ xã hội thiết yếu khác, trợ cấp đủ sống, có việc làm, quyền của thanh niên – hay nói các khác, những chương trình và chủ đề mang lại một cơ sở vật chất cho sự độc lập cá nhân.

Quyền của thanh niên đặc biệt quan trọng. Sự chấp nhận trẻ em là người phụ thuộc, như thuộc về cha mẹ, đã ăn sâu đến mức chúng ta khó có thể hình dung điều gì diễn ra khi đối xử với chúng như là những người độc lập, cụ thể là về lĩnh vực biểu lộ và lựa chọn tình dục. Tuy vậy, khi điều đó diễn chưa diễn ra, sự giải phóng người đồng tính vẫn nằm ngoài tầm tay của chúng ta.

Nhưng sự độc lập cá nhân chỉ là một nửa câu chuyện. Sự bất ổn của gia đình và cảm giác tạm thời cũng như thiếu an toàn mà mọi người đang trải qua trong mối quan hệ cá nhân là vấn đề xã hội thực sự cần phải được mô tả. Chúng ta cần các giải pháp chính trị cho những khó khăn của đời sống cá nhân. Những giải pháp đó không thể đến dưới dạng phiên bản cấp tiến của lập trường ủng hộ gia đình, của một số đề xuất cánh tả về việc củng cố gia đình. Những người xã hội chủ nghĩa nói chung không phản ứng lại sự bóc lột và bất bình đẳng kinh tế của chủ nghĩa tư bản công nghiệp bằng cách kêu gọi sự quay trở lại với gia đình nông thôn và sản xuất thủ công. Chúng ta công nhận rằng năng suất to lớn mà chủ nghĩa tư bản tạo ra đã khiến cho sự xã hội hóa sản xuất trở thành một đặc trưng tiến bộ. Tương tự, chúng ta không nên cố gắng quay ngược đồng hồ để trở về với thời đại huyền bí của gia đình hạnh phúc.

Tuy vậy, chúng ta cũng cần các cấu trúc và chương trình để phá vỡ các ràng buộc và cô lập gia đình, đặc biệt là sự tư nhân hóa việc nuôi dưỡng trẻ em. Chúng ta cần nhà trẻ do cộng đồng – hay công nhân kiểm soát, đặt tại nơi mà sự riêng tư và tính cộng đồng cùng tồn tại, các thiết chế cộng đồng – từ bệnh viện cho tới các trung tâm nghệ thuật – để mở rộng đơn vị xã hội mà mỗi chúng ta đều có một nơi an toàn. Khi chúng ta tạo ra các cấu trúc vượt qua gia đình hạt nhân để cung cấp một cảm giác phụ thuộc, gia đình sẽ suy tàn một cách đáng kể. Chúng sẽ sẽ ngày càng ít tạo ra hoặc phá vỡ sự an toàn cảm xúc của chúng ta.

Theo khía cạnh này, người đồng tính đã được xếp một vai trò đặc biệt. Hầu hết chúng ta đã bị loại khỏi gia đình, để sinh tồn chúng ta cần phải tạo ra một mạng lưới hỗ trợ không phụ thuộc vào các quan hệ huyết thống hay giấy phép của nhà nước, mà được tự do lựa chọn và nuôi dưỡng. Việc xây dựng một “cộng đồng tình thương” phải là một phần của phong trào chính trị, cũng giống như các chiến dịch đòi quyền công dân. Theo cách này, chúng ta có thể định hình các mối quan hệ cá nhân trong một xã hội dựa trên sự bình đẳng và công bằng thay vì bóc lột và áp bức, trong xã hội đó thì sự độc lập và an toàn không loại trừ lẫn nhau mà cùng tồn tại.

Wednesday, May 11, 2016

Sài Gòn là “Hòn Ngọc Viễn Đông” hay “Paris của phương Đông”?

Số lượng người Pháp sống ở thuộc địa Đông Dương tương đối ít, do vậy chính quyền Pháp tìm nhiều cách để khuyến khích người dân di cư đến thuộc địa. Họ tổ chức các cuộc triển lãm về thuộc địa Đông Dương ở các thành phố lớn như Paris, Marseille và Lyon và giới thiệu thuộc địa là "Hòn Ngọc Viễn Đông" để thu hút người Pháp. [1] Như vậy, Hòn Ngọc Viễn Đông này là cho người Pháp chứ không phải cho dân thuộc địa.

Từ năm 1896 đến năm 1902, toàn quyền Doumer tăng cường khai thác thuộc địa, lúc này Đông Dương được gọi là "Hòn Ngọc Viễn Đông". Doumer theo đuổi kế hoạch xây dựng cơ sở hạ đô thị cho toàn bộ Đông Dương nhằm phục vụ cho việc khai thác thuộc địa, được tuyên truyền một cách văn hoa là biến Đông Dương thành "Hòn Ngọc Viễn Đông". Kế hoạch này không phải chỉ phục vụ cho Sài Gòn, hơn nữa Doumer cũng quyết định đặt chính quyền thực dân tại Hà Nội chứ không phải Sài Gòn, tức là coi Hà Nội là trung tâm của Đông Dương.[2]

Sự mơ hồ trong danh hiệu "Hòn Ngọc Viễn Đông" ở Đông Dương đã khiến cho không chỉ Sài Gòn nhận được danh hiệu ấy mà người ta bắt gặp cả người Hà Nội thời xưa cũng đôi lúc dùng danh hiệu ấy cho thành phố của mình.[3] Sau này, một số người nước ngoài cũng nhắc đến điều này ví dụ như trong một bài báo về việc Hàn Quốc tham gia chiến tranh ở Việt Nam đã đăng trên blog này. 

Cho đến năm 1910, khách du lịch vẫn gọi Sài Gòn là "Paris của phương Đông" vì lối sống và văn hóa phỏng theo kiểu Paris của thành phố này. Một khách du lịch đã đi một vòng quanh các cảng ở Đông Nam Á và so sánh Sài Gòn với các thương cảng khác ở Đông Nam Á. Ông ta cho biết vào lúc đó người Mỹ đã gọi Manila của Philippine là "Hòn Ngọc Viễn Đông" và nói rằng Sài Gòn tuy không sạch sẽ hay có hoạt động thương mại sầm uất như Manila nhưng đẹp và hấp dẫn hơn. [4]

Tuy vậy, danh hiệu "Paris của phương Đông" cũng không phải chỉ duy nhất Sài Gòn có. Ở Châu Á, Thượng Hải có danh xưng này từ lâu và sau này có Harbin của Trung Quốc cũng nhận danh xưng này. Ngoài ra còn có Van, một thành phố nhỏ nằm ở phía Đông của Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ cũng xưng tên đó.

Có thể những cái tên như "Hòn Ngọc Viễn Đông" hay "Paris của phương Đông" chỉ là tên gọi mang tính chất truyền thông để quảng bá du lịch và thu hút du khách cũng như thực dân đến thuộc địa sinh sống, nó không mang ý nghĩa nhiều về sự phát triển hay quy mô của thành phố ấy. Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và hiệp ước hòa bình khiến Việt Nam tạm thời bị chia cắt đã thúc đẩy người Pháp ở miền Nam tìm sự an ủi trong ánh hào quang cũ kỹ của thời thuộc địa trước khi bị người Mỹ hất cẳng. Sau đó, những tay sai thất trận của Mỹ tiếc nuối về Hòn Ngọc Viễn Đông ở nơi lưu vong. Đa số người Việt Nam chẳng quan tâm cái hòn ngọc thời thuộc địa ấy có nghĩa gì, giờ đây họ đang xây dựng một thành phố vĩ đại mang tên người anh hùng giải phóng dân tộc. Người ta sẽ phải nhắc đến thành phố Hồ Chí Minh ở Đông Nam Á. Lần này, lịch sử không phải do những kẻ thực dân hay đế quốc viết mà do người Việt Nam tự do viết ra. 

Tài liệu tham khảo:

[1] Trong cuốn “French Women and the Empire: The Case of Indochina” của Marie-Paule Ha do nhà xuất bản Oxford University Press phát hành năm 2014 ở trang 89 có đoạn viết:

According to Alain Ruscio, from 1878 onward, Indochina and Indochinese featured regularly in the different colonial exhibition in Paris, Marseille, and Lyon, in which “the Pearl of the Orient”, as Asian colony came to be know, was billed as one of the major attractions27.

Mục chú thích số 27 như sau:

Ruscio, “Du village à l’exposition. One of French woman interviewed by Locret-Le Bayon recalled that it was her visit to the 1931 international colonial exhibihation that totally changed her negative view of the colonies and helped make up her mind to marry her husband, who had a position in Saigon.

[2] Trong cuốn “Encyclopedia of Early Cinema” của Richard Abel do nhà xuất bản Taylor & Francis, phát hành năm 2005 ở trang 678 có đoạn viết:

From 1896 to 1902, Doumer embarked on an ambitious plan to develop Vietnam’s urban infrastructure. The Cinématoghraphe captured the labor of the anonymous Vietnamese workers who transformed Indochina into the “Pearl of the Orient”, as exemplified in Girel’s extraordinary Coolies à Saigon [Coolies in Saigon] shot in December 1896. This desire to archive everyday practices is also evident in scenics of travelogues such as Le Vilage de Namo: Paronama pris d’une chaise à porteurs [The Vilage of Namo Seen from a Portable Chair]. 

[3] Trong cuốn “From the City Inside the Red River: A Cultural Memoir of Mid-century” Vietnam của Nguyễn Đình Hoà do nhà xuất bản McFarland phát hành năm 1999 ở trang 34 có đoạn viết:

We worked our way up in nearly complete darkness. Once we got rooftop, we found out the reward very worthwhile: Before us spread out the city of Hanoi. Amid the greenery of trees, I could very easily spot the Municipal Theater, the “Grands Magasins Resunis” department store (referred to as Maison Godard), the university building, the Lanessan Military Hospital, the Maurice Long Museum, the cathedral, the railroad station, the palace of the governor-general with little tricolor flag – all distinctive landmarks of the “Pearl of the Orient.” Columns of smoke were spiraling upward from the rice wine distillery, and beyond the city boundaries also, from small factories, pottery kilns and brick kilns scattered in suburban areas.

[4] Sách "On& Off Duty in Annam" của Grabrielle M. Vassal, do nhà xuất bản William Heinemann (London) phát hành năm 1910 trang 21 có viết:

The tour d’inspection took us down the chief streets, through the Botanical Gardens and round one of the prettiest districts in the neighbourhood. We were charmed with all we saw. Saigon is the Paris of the East. Manila, which the Americans call “the Pearl of the Orient”, may be more sanitary and show greater commercial activity, but it is neither so pretty nor so attractive as Saigon. The town is well laid out on broad and artistic lines. The public buildings, such as the Cathedral, the theatre, and the Governor’s Palace, are chefs-d’oeuvre of architecture, and are set off to advantage by their position at the end of some broad avenue or grass-covered square.

Monday, May 9, 2016

Hàn Quốc lãng quên sự tham chiến ở Việt Nam: Sự chiếm đoạt và phá hủy hình ảnh Chiến Tranh Việt Nam trong trí óc của người dân Hàn Quốc

Hàn Quốc đã tạo ra điều kỳ diệu sông Hàn nhờ lợi nhuận khổng lồ của việc tham gia Chiến Tranh Việt Nam. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Hàn Quốc đã kiểm duyệt chủ đề sự tham chiến của Hàn Quốc tại Việt Nam trong nhiều năm và thành công trong việc dựng lên một hình ảnh xuyên tạc về chiến tranh Việt Nam trong trí óc người dân. Trong hình ảnh xuyên tạc đó, họ chỉ là lính đánh thuê cho Hoa Kỳ để kiếm tiền và không phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi đã gây ra. Việc lảng tránh trách nhiệm được thực hiện bằng cách khai thác khía cạnh đau khổ của người Hàn để chứng tỏ rằng họ cũng chịu đau khổ như Việt Nam và qua đó lảng tránh bản chất của cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời chính quyền Hàn Quốc cũng bỏ mặc cựu chiến binh Hàn Quốc, không thừa nhận họ. Hàn Quốc lảng tránh trách nhiệm trong khi không ngừng lên án tội ác chiến tranh của Mỹ và Nhật Bản đối với Hàn Quốc trong Chiến Tranh Triều Tiên với cùng một luận điểm. Điều này trở thành một thứ đạo đức giả mà người Hàn không thể thoát ra được.

Khi kinh tế Việt Nam phát triển mạnh, Hàn Quốc trở thành nước đầu tư lớn nhất ở Việt Nam thì hình ảnh Việt Nam tại Hàn Quốc lại bị biến thành một kiểu hình ảnh thuộc địa với lợi nhuận dễ kiếm và các cơ hội phiêu lưu kỳ thú. Nhưng điều này cũng đánh dấu sự cáo chung cho quan điểm đạo đức giả mập mờ của Hàn Quốc về chiến tranh Việt Nam, họ buộc phải đối mặt với sự thật, do không thể tiếp tục hợp tác kinh tế với Việt Nam đồng thời vẫn tiếp tục lảng tránh quá khứ. Đây có lẽ là lý do khiến phong trào hối lỗi và đền bù cho Việt Nam nổi lên ở Hàn Quốc.  

Lý do của bài báo này tất nhiên là để chống lại quan điểm phổ biến của người Hàn về chiến tranh Việt Nam và việc đổ trách nhiệm sang cho Hoa Kỳ. Song tại sao Hàn Quốc, một chư hầu dễ bảo của Hoa Kỳ, lại chống lại Hoa Kỳ bằng cách này? Câu trả lời là sau những cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997-98, Hoa Kỳ đã cho thấy không còn giữ được địa vị siêu cường, do vậy Hàn Quốc tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Hoa Kỳ để vươn lên. Trong bối cảnh đó, phong trào bài Mỹ phát triển mạnh mẽ hơn ở Hàn Quốc và việc Hàn Quốc tự nạn nhân hóa mình để lên án Mỹ trở thành chìa khóa cho tình thế lưỡng nan khi mà họ vừa là đồng minh thân cận Mỹ vừa phải hòa giải với các cựu thù để tìm cách thoát Mỹ. Giới học giả Mỹ hiểu điều này, do vậy họ tìm buộc Hàn Quốc phải gánh trách nhiệm về những gì đã làm. 

Một điểm đáng chú ý nữa là khi Hàn Quốc và Mỹ tìm cách đổ lỗi cho nhau về sự tham chiến của Hàn Quốc ở Việt Nam thì giới trí thức thân phương Tây ở Việt Nam cũng bị mắc kẹt theo, một mặt họ ca ngợi Hàn Quốc là hình mẫu phát triển nhờ theo Mỹ bất chấp việc Hàn Quốc đã kiếm tiền trên xương máu đồng bào họ, nhưng mặt khác khi phải đối diện với sự đả kích Hàn Quốc từ phía Mỹ thì mặc dù đi theo hướng thân Mỹ nhưng lại không thể ủng hộ Mỹ trong việc đó, kết quả là một sự tự kiểm duyệt quan điểm của Mỹ ngay cả khi thân Mỹ. 

Dưới đây là bản dịch bài báo:

Korea’s Forgotten War: Appropriating and subverting the Vietnam War in Korean popular imaginings

Remco Breuker

Dẫn nhập

Một trong những bộ phim hay nhất được sản xuất ở Hàn Quốc (HQ) trong thời kỳ điện ảnh bùng nổ vào những năm 1990 và 2000 là Raybang 라이방, một bộ phim không thể ra đời nếu không có Chiến Tranh Việt Nam (CTVN) và trên thực tế là một sự liên hệ không trực tiếp tới vai trò của HQ trong cuộc chiến tranh đó cũng như những vấn đề xoay quanh sự can dự của HQ. Tiêu đề bộ phim, Raybang, là phiên âm tiếng Hàn của nhãn hiệu kính râm Ray-Bans của Mỹ, nổi tiếng ở HQ trong thời kỳ CTVN, khi nhiều binh lính gửi về nhà những bức ảnh họ đeo loại kính râm đó, được mua tại các trạm đổi quân (PX) của quân đội Mỹ2. Trong bộ phim, ba tài xế taxi tìm cách thoát khỏi cuộc sống khó khăn về kinh tế và cuối cùng quyết định cướp một phụ nữ giàu có trong khu phố của họ. Với tiền cướp được, họ định thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ và bế tắc bằng cách làm lại từ đầu ở Việt Nam (VN). Một tài xế có chú là người thu gom rác thải của quân đội và từng tham chiến ở VN. Người chú này ăn mặc như thể là ông ta vẫn tại ngũ, khuyên bảo đứa cháu và liên hệ với những cựu chiến binh khác. Chưa bao giờ kết hôn và làm một công việc ít được kính trọng về mặt xã hội, ông ta là hình tượng đặc trưng của các cựu chiến binh trong xã hội HQ đương thời: cô lập, những đóng góp của họ cho sự tăng trưởng kinh tế của HQ không được công nhận và chỉ được chấp nhận nếu họ tách bản thân khỏi những trải nghiệm của chiến tranh (là điều mà ông chú không thể và sẽ không làm). Raybang là sự thừa nhận nhẹ nhàng đối với những nỗ lực và hy sinh không được thừa nhận của đa số những người đàn ông và phụ nữ chăm chỉ thầm lặng, những người chưa bao giờ có ý định làm điều tốt. Trong bộ phim, kính râm của họ đóng vai trò phân chia ranh giới giữa thế giới bên ngoài và những yêu cầu của nó với không gian nội tại tràn ngập những giấc mơ của họ. Các yếu tố khác trong bộ phim, như sự bất mãn của một trong số những người đàn ông, một cựu sinh viên, của truyền thông quốc nội cũng như các phân tích về kinh tế và chính trị của ông chú, không chỉ cho thấy mức độ hiểu biết cao về vị trí của họ trong xã hội HQ mà còn củng cố sự quan trọng của hình ảnh đa giá trị của VN trong trí tưởng tưởng của dân chúng HQ.     

Câu chuyện về sự can dự của HQ trong CTVN cũng cho thấy sự hiểu biết về sự tương tác giữa những quan điểm lịch sử chuyên nghiệp với quan điểm của công chúng hay nghiệp dư. Tôi sẽ chứng minh rằng quan điểm lịch sử chuyên nghiệp chính thống về sự can dự của HQ đã vay mượn mọi thứ từ quan điểm công chúng/nghiệp dư, vốn đã dự báo chúng. Với ngoại lệ là một số rất nhỏ các nhà sử học chuyên nghiệp (những người mới chỉ bắt đầu công bố về chủ đề này gần đây), nhận thức chuyên nghiệp, chính thống và công chúng về CTVN hầu như là trùng khớp, ngay cả khi tín hiệu được truyền tải trong chúng có thể khác biệt. Nhận thức lịch sử về sự tham gia của HQ dường như thoát khỏi định nghĩa về đặc trưng của sử học HQ thời hậu chiến tranh Triều Tiên: trên phương diện lịch sử thành văn, nhà sử học (bất kể là chuyên nghiệp hay nghiệp dư) đều sẽ cố gắng quy trách nhiệm cá nhân (sự kiện) nhằm đạt được một đánh giá đạo đức đối với một phần cụ thể của lịch sử. Bất chấp tầm quan trọng của CTVN trong lịch sử HQ, điều đó không xảy ra giống như đối với lịch sử của chiến tranh ở HQ. Trái lại, chính trị chịu đựng (sự khai thác cho các mục tiêu chính trị đối với nỗi đau khổ của con người) đã được xác định và ngăn chặn tranh luận, tôi sẽ bổ sung. Đây là hiện tượng mà tôi muốn tìm hiểu và đưa ra những cái nhìn sâu sắc về sự kết nối của sử học công chúng, cá nhân, chuyên nghiệp cũng như chính thống.

Bài báo này chủ yếu đề cập đến những trải nghiệm của binh lính HQ đã tham chiến ở VN. Do vậy, nó chỉ đề cập tới trải nghiệm của nam giới. Mặc dù vậy, CTVN là cuộc chiến mà phụ nữ cũng tham gia nhiều như nam giới. Hơn nữa, không chỉ có người VN chiến đấu mà cả phụ nữ HQ cũng tham gia, như một bộ phim mới đây (Sunny 님은 곳에) đã cho thấy3. Phụ nữ HQ đến VN với những lý do cũng giống như nam giới: thoát khỏi đói nghèo, thỏa mãn khát khao thay đổi và phiêu lưu, nắm bắt cơ hội thành công và giàu có, hay bởi vì bị công việc bắt buộc. Những phụ nữ HQ đến VN là nghệ sĩ giải trí, ca sĩ, vũ công, nhạc công, gái bán hoa, nữ doanh nhân và thương nhân. May mắn là chủ đề này không hoàn toàn bị bỏ qua4, có nhiều nghiên cứu vẫn đang được hoàn thành về chủ đề này nhằm bác bỏ huyền thoại cho rằng phụ nữ ở VN, giống như huyền thoại cho rằng họ trong tình thế xung đột, là những người quan sát thụ động hoặc nạn nhân. Tuy vậy, bài báo này không làm việc đó.

Cần phải nói là sự bóc lột và đau khổ của một nhóm nhất định cho các mục tiêu chính trị là một hiện tượng phổ biến. Không chỉ trong lịch sử Triều Tiên (sự đau khổ của phụ nữ giải trí đã trở thành mối quan tâm quốc gia), mà đặc biệt là trong bối cảnh hậu thuộc thực dân. Các ví dụ về sự phản ứng của người Mỹ đối với CTVN, người Hà Lan phủ nhận những sự kinh hoàng của thời kỳ thực dân ở Indonesia hay người Nhật không thừa nhận các tội ác trong Thế Chiến II – một danh sách đầy đủ các trường hợp sẽ dài bất tận. Những trường hợp đó được thống nhất bằng một cơ chế ưu tiên (và công khai thừa nhận) sự đau khổ của thủ phạm và phụ thuộc vào sự chấp thuận (câm lặng) của công chúng.

Việc các đơn vị quân đội của HQ tham gia CTVN là sự kiện hầu như đã bị quên lãng trong trí nhớ của dân chúng HQ, ngay cả khi lợi ích tài chính của cái được gọi là wŏllam p’abyŏng 南派兵 (việc gửi quân đến VN) đã giúp kinh tế HQ tăng trưởng đáng kể vào cuối những năm 1960 và 1970. Sự miễn cưỡng của truyền thông đại chúng trong việc phản ánh về sự can dự của HQ trong CTVN – ước tính là tổng cộng khoảng 350.000 lính HQ được triển khai trong thời gian mười năm, chưa bao giờ có ít hơn 50.000 lính trong suốt thời kỳ đó – gắn liền với một tập hợp phức tạp những nhận thức về VN, CTVN và vai trò của HQ trong cuộc chiến đó. Sự miễn cưỡng này cũng được thể hiện trong sự thiếu vắng các nghiên cứu lịch sử đối với phần quan trọng của lịch sử HQ thời hậu chiến5. Trong những thập kỷ gần đây, HQ đã xem xét VN với sự quan tâm mới, coi đó là một quốc gia để đầu tư, để thu hút lao động được đào tạo với giá rẻ và nhập khẩu cô dâu. VN cũng được coi là một sự phản chiếu, cả với tương lai một quốc gia thống nhất của HQ cũng như hoài niệm về một quốc gia đang phát triển. Tuy vậy, sự xuất hiện của các hồi ký lịch sử về VN – một quốc gia có 350.000 lính HQ tham chiến và hơn 5.000 đã chết – lại ít ỏi một cách đáng ngạc nhiên.

Sự kiểm duyệt nhà nước trong nghiên cứu lịch sử về CTVN chỉ giải thích một phần của hiện tượng này6. Sự ngạc nhiên tiềm tàng đối với chính quyền HQ vẫn còn rất lớn: những vụ thảm sát do lính HQ gây ra ở VN đã được biết đến. Nếu như HQ đã trải qua những cuộc thảm sát của Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Triều Tiên, chính quyền HQ sẽ cảm thấy tình thế khó xử khi họ bị chính quyền VN cáo buộc về các tội ác tương tự7. Kết quả là sự kiểm duyệt đối với các nghiên cứu học thuật xuất hiện và CTVN vẫn là một trong những chủ đề bế tắc nhất trong giới học thuật HQ8. Sự kiểm duyệt đã được dỡ bỏ hơn một thập kỷ, nhưng CTVN vẫn tiếp tục vắng mặt trong trí tưởng tưởng của dân chúng HQ. Lĩnh vực duy nhất mà trong đó CTVN và sự can dự của HQ được nhớ đến là nghệ thuật, nhất là văn học và điện ảnh, mặc dù cũng không phải là phong phú. Trong bài báo này, tôi sẽ chi tiết hóa các quan điểm văn chương và điện ảnh về sự can dự của HQ trong CTVN trên nền quan hệ đương thời giữa HQ và VN. Bối cảnh này – được tạo nên từ công nhân nhập cư, cô dâu nhập khẩu, doanh nhân và nhà đầu tư thường trú, cựu chiến binh, ngôn ngữ phổ thông và sách hướng dẫn văn hóa, cũng như người Bắc Triều Tiên đang chuyển tiếp – đặt sự vắng mặt của những hồi ức chung ở HQ về CTVN vào một khía cạnh phức tạp và thú vị, thứ bị lảng tránh nhiều hơn là được làm rõ. Khía cạnh này cũng cho thấy câu hỏi về khả năng định nghĩa nhiệm kỳ tổng thống của Park Chung-Hee’s 정희, và của lịch sử hiện đại HQ, vẫn tiếp tục bế tắc, trong khi đồng thời lại có thể tiếp cận được. Đa số cựu chiến binh tham chiến ở VN vẫn còn sống, tuy vậy ngoài những hoạt động của họ (hiện giờ là trên web) trong các hội cựu chiến binh vốn ít được công chúng chú ý tới, họ hầu như không hiện hữu trong xã hội HQ như là một nhóm xã hội đáng chú ý.

Sự tắc nghẽn cần được tháo gỡ là vai trò của chiến tranh VN, giống như một sự gia tốc về kinh tế ở các nền kinh tế đang phát triển của Châu Á trong những năm 1960 và 1970, được thể hiện trong sự lảng tránh ở HQ về sự can dự của HQ trong cuộc chiến tranh này. Sự phong phú của văn học và điện ảnh Hoa Kỳ về CTVN tương phản sâu sắc với sự vắng mặt của chúng ở HQ9. Australia, vốn gửi chưa đến 4.500 quân đến VN, cũng tạo ra cái được gọi là văn học CTVN10. Văn học HQ đã chỉ tạo ra một số ít tiểu thuyết hay tường thuật về CTVN, mặc dù trong số những tiểu thuyết đó, The Shadow of Arms của Hwang Sok-yong là một tác phẩm bậc thầy của văn học HQ thời hậu chiến. Tương tự, điện ảnh HQ, bất chấp việc đã trải qua sự bùng bổ trong hai thập kỷ qua và bất chấp việc gắn liền với các phim có bối cảnh lịch sử, đã không sản xuất nhiều phim về CTVN. Hơn nữa, không có nhiều phim thực sự xuất sắc trong số các phim có liên quan đến CTVN và chiến tranh, không có bộ phim nào có thể so sánh với The Shadow of Arms của Hwang. Đáng chú ý là văn học Mỹ về CTVN chủ yếu đề cập đến trải nghiệm của cá nhân binh lính trong và sau chiến tranh, trong khi phần HQ thì thể hiện sự nhận thức mạnh mẽ về tình hình quốc tế rộng lớn hơn, khiến cho cá nhân binh lính tự nhận thức là “lính đánh thuê cho Hoa Kỳ”11. Sự nhận thức này tương phản với hồi ức được lựa chọn. Sự can dự của HQ trái ngược với bản thân HQ, tại đó những quan điểm tương tự hầu như vắng mặt hoàn toàn. Đây là sự xung đột giữa nhận thức về hoàn cảnh của binh lính HQ ở VN (cả bởi bản thân cũng như bởi quốc gia đã cử họ đi) và sự đóng góp quan trọng của anh ta đối với sự phát triển kinh tế và xã hội ở HQ, mặt khác là sự lãng quên mà anh ta nhận được ở HQ sau cuộc chiến tranh, đó sẽ là trung tâm của bài báo này.  

Binh lính HQ ở VN, 1966-1975: những nhận thức lịch sử

Vào năm 1965, những binh lính chiến đấu HQ đầu tiên được gửi tới VN (sau lần gửi quân ban đầu vào năm 1960 với 130 huấn luyện viên quân sự và 10 võ sư Taekwondo)12. Trong bài phát biểu từ biệt, tổng thống Park Chung-Hee đã so sánh các binh lính được gửi đi với đạo quân thánh chiến, thể hiện rõ ràng tính chất lịch sử của nhiệm vụ. Quyết định của Park đáp ứng tích cực lời kêu gọi của Lyndon Johnson về việc tham chiến được coi là “không thể tránh khỏi”, cũng như nó cho chép chính quyền HQ thanh toán khoản viện trợ quân sự của 16 quốc gia đối với HQ vào những năm 195013. Trong khi điều này nhanh chóng được tổng thống và các cố vấn nhận ra14 thì đồng thời họ cũng quyết định rằng binh lính HQ sẽ không có giá rẻ đối với Hoa Kỳ15. Theo một viên chức cao cấp trong chính quyền Park, VN là “El Dorado của HQ, nơi mà họ kiếm của cải ngay tức khắc”16. Bên cạnh lý do kinh tế rõ ràng của việc tham chiến ở VN, mối lo ngại về sự tổn thất an ninh do Hoa Kỳ rút quân khỏi bán đảo Triều Tiên cũng được tính tới17. Sự tham chiến cũng được cho là sẽ tạo ra ảnh hưởng có lợi đối với sự đoàn kết trong nước, tạo thành những công cụ hiệu quả để chống lại sự lan truyền của chủ nghĩa cộng sản ở Châu Á18. Sự chia cắt giữa miền Nam và miền Bắc VN cũng có thể là một hình mẫu đáng kể đối với tình hình của HQ. Các nhà sử học đồng ý rằng mối lo ngại về an ninh và lợi ích kinh tế là những lý do chính khiến chính quyền HQ đã đồng ý tham chiến ở VN19. Các lợi ích kinh tế gắn liền với viện trợ trực tiếp và không trực tiếp của Hoa Kỳ, tiền ngoại hối mà mỗi binh lính gửi về nhà, khoản thanh toán cho binh lính, các khoản vay ưu đãi, các điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất khẩu hàng hóa của HQ sang thị trường Hoa Kỳ và cơ hội chế tạo cũng như bán các sản phẩm của HQ ở VN cho quân đội Hoa Kỳ. Mặc dù sự đánh giá của Park về các cơ hội kinh tế mà HQ thu được từ việc tham chiến ở  VN – vốn dựa trên ví dụ về lợi ích khổng lồ mà Nhật Bản kiếm được trong chiến tranh Triều Tiên – là chính xác, nhưng nực cười là Nhật Bản (mặc dù không gửi quân đến VN) đã kiếm lợi gấp mười lần HQ từ CTVN20. Tuy vậy, kinh tế HQ đã được tạo dựng dựa trên những lợi ích kinh tế sinh ra từ CTVN và không quá khi nói rằng sự thần kỳ của Hàn sẽ không diễn ra nếu như quân đội HQ không tham chiến ở VN21. Đáng chú ý là chỉ có rất ít các phân tích trình bày về tầm quan trọng của CTVN đối với sự xuất hiện của sự thần kỳ kinh tế ở HQ (và các quốc gia Châu Á khác)22. Một cuốn sách lịch sử HQ nói chung (một trong những cuốn sách lịch sử HQ bán chạy nhất ở HQ) đã khẳng định như sau:     

Việc gửi binh lính tới VN bị chỉ trích dựa trên lý do cho rằng việc đó giống như “bán máu thanh niên của chúng ta” và nhiều binh lính đã chết ở đó, đồng thời hiện giờ nhiều cựu chiến binh phải chịu đựng đủ mọi loại di chứng do hóa chất khai quang [được sử dụng ở VN], nhưng điều đó cũng được coi là đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Các doanh nghiệp xây dựng xâm nhập VN đã mở ra con đường xuất khẩu lao động và sau chiến tranh những lao động và cơ sở này lại chuyển sang Trung Đông. Dựa trên những đặc quyền của CTVN, sự phát triển kinh tế đã xuất hiện ở nửa sau của những năm 196023.   

Cuốn sách này coi sự phát triển kinh tế của HQ có vai trò lớn hơn các yếu tố khác, như các chính sách kinh tế của chính quyền Park Chung-Hee (nền kinh tế do nhà nước lập kế hoạch và định hướng), viện trợ quân sự của Hoa Kỳ (đồng thời không cụ thể hóa được tác động gia tốc của chi tiêu liên quan đến CTVN đối với các nền kinh tế các nước ở Châu Á) cũng như sự đúng đắn của nền kinh tế định hướng xuất khẩu24. Theo như ví dụ đã nêu trên, một đoạn dài đã mô tả sự can dự của HQ trong CTVN25. Sự xâm nhập thành công của các công ty xây dựng HQ vào VN được coi là bước đầu của sự tăng trưởng kinh tế đáng kể và được đã được hoan nghênh. Mọi sự chú ý đối với các yếu tố phi kinh tế đều được hướng tới những hậu quả mà cựu chiến binh phải gánh chịu, sự ốm yếu và chấn thương của họ không bao giờ được chính quyền thừa nhận26. Trong hầu hết các tường thuật về CTVN (cũng như trong những tường thuật có ảnh hưởng nhất), sự phê phán đối với chính quyền đều hướng tới sự lảng tránh đối với các binh lính trung thành, chứ không phải là quyết định tham chiến ở VN. Thái độ phê phán đó đã tạo thành đặc trưng của sử học hiện đại, hoàn toàn tập trung vào các vấn đề quốc nội liên quan đến CTVN, lảng tránh khía cạnh quốc tế của cuộc chiến.

Về mặt quốc nội, các nhà sử học chuyên nghiệp và chính thống đều đồng thuận cả về lý do kinh tế cũng như an ninh, HQ không có bất cứ lựa chọn nào khác ngoài việc gửi binh lính tới VN. Ngay cả khi thừa nhận người VN phải chịu sự đau khổ do quyết định này, một quyết định đã được kéo dài suốt một thập kỷ, ý kiến trong các cuộc tranh luận đều nhấn mạnh rằng bản thân người HQ cũng phải chịu đau khổ như người VN (nếu không nói là hơn: bán đảo vẫn chưa được thống nhất). Có ba nhóm sự đau khổ của HQ thường xuyên xuất hiện trong các cuộc thảo luận về CTVN: 1. thiệt hại nhân mạng của HQ (hơn 5.000 binh lính đã chết ở VN và rất nhiều bị thương); 2. các thương bệnh binh; 3. sự huấn luyện và kinh nghiệm mà quân đội HQ thu được ở VN đã được sử dụng để chống lại người dân HQ khi quân đội được đưa tới đàn áp cuộc nổi dậy ở Kwangju (khi cựu chiến binh tham chiến ở VN Chun Doo Hwan làm tổng thống). Điều thứ ba rất đáng chú ý. Thực sự là quân đội HQ đã thu được các kỹ năng, vũ khí và phương tiện để đàn áp người nổi dậy của Kwangju từ VN. Tuy vậy, quan điểm này – CTVN gây ra bể máu ở Kwangju – cũng cho thấy rõ mức độ thiếu hiểu biết của công chúng về những hậu của sự tham chiến của HQ ở VN đối với VN. Khó có thể hình dung được sự khẳng định đó, hoàn toàn im lặng về những đau khổ của người VN, lại có thể xuất hiện. Đồng thời, những lợi ích của sự tham chiến đã mang cho HQ cũng không được thừa nhận, ngay cả các học giả cánh tả.

Bảng 1: Quân đội Hàn Quốc ở Việt Nam (1964-1972)


Tổng số
Quân đồn trú
Hỗn hợp
Tổng số
Bộ binh
Hải quân
Không quân
Hải quân đánh bộ
1964
140
140
140




1965
20.541
20.541
15.973
261
21
4.286

1966
45.605
45.605
40.534
722
54
4.295

1967
48.839
48.839
41.877
735
83
6.144

1968
49.869
49.838
42.745
785
93
6.215
31
1969
49.755
49.720
42.772
767
85
6.096
35
1970
48.510
48.478
41.503
772
107
6.096
34
1971
45.694
45.663
42.345
662
98
2.558
31
1972
37.438
37.405
36.871
411
95
28
33

Nguồn: Bộ Quốc Phòng, Kunsa p’yŏnch’an yŏn’guso, Pe’tŭnam chŏnjaeng-gwa Han’gukkun (Seoul: Bộ Quốc Phòng, 2004), p. 196.

Bảng 1 cho thấy số lượng binh lính HQ tham chiến ở VN từ năm 1964 đến 1972. Cả binh lính cũng như chính quyền HQ đều được Hoa Kỳ thanh toán theo đầu số lính được gửi đi; thêm vào đó, HQ cũng thu lợi trực tiếp và không trực tiếp tự sự gia tăng viện trợ của Hoa Kỳ cũng như từ những biệt đãi của Hoa Kỳ. Có thể nói rằng tác động kinh tế của CTVN đối với HQ là rất lớn. Các lợi ích kinh tế của CTVN dĩ nhiên là không phải không được nhận ra, mặc dù sự đo lường đầy đủ ít khi được thực hiện27. Như với khẳng định về việc người HQ cũng chịu đau khổ nhiều như người VN, các động cơ kinh tế của sự tham chiến thường xuyên được trình bày như là sự bắt buộc:

Lời khai của bộ trưởng Bộ Quốc Phòng cho thấy chính quyền HQ không thể rút quân khỏi VN bởi vì HQ có được những lợi ích kinh tế khổng lồ từ việc tham chiến […] theo thống kê của Hoa Kỳ, số tiền mà binh lính HQ ở VN đã nhận được là 171 triệu dollar vào năm 1968 và 200 triệu dollar vào năm 1969. Bên cạnh đó, số lượng viện trợ tài chính của Hoa Kỳ là 200 triệu dollar sau khi chính quyền HQ gửi thêm quân đội đến VN. So với GNP của HQ chưa bao giờ vượt qua 5,2 tỷ, rõ ràng là HQ không thể rút quân khỏi VN28.
   
Hay nói cách khác, sự nghèo khổ của HQ vào những năm 1960 đã khiến họ không thể từ chối các lợi ích kinh tế (và lợi ích khác) của việc tham chiến ở VN. Lập luận về sự nghèo khổ không chỉ phổ biến đối với các nhà kinh tế mà cũng được các nhà sử học chính thống bảo vệ29. Lập luận này cũng được thể hiện trong văn học và điện ảnh, chi tiết hơn sẽ được đề cập ở dưới.

Một yếu tố quan trọng trong cách thức tham chiến của HQ ở VN được cho là chức năng phản ánh của VN. Không chỉ có người VN và HQ có chung gánh nặng là người Châu Á trong một thế kỷ tràn ngập chiến tranh, bóc lột và thuộc địa hóa, ở cấp độ thấp hơn thì VN phản ánh cách thức HQ sẽ tồn tại trong quá khứ cũng như tương lai. Các nhà sử học đồng ý rằng sự xem xét chức năng phản ánh cho thấy một phần của quá trình ra quyết định dẫn tới sự tham chiến của HQ30. Như Ch’ae Myŏngshin, tổng tư lệnh đầu tiên của quân đội HQ ở VN, viết trong hồi ký The Vietnam War and Myself: The Memoirs of Ch’ae Myŏngshin (베트 전쟁과 : 채명신의 회고록), trong chương cuối về sự sụp đổ của tự do và Nam VN sẽ đóng vai trò là bài học đối với HQ31. Trong khi binh lính tới VN đã mô tả những trải nghiệm của bản thân trong gần hai thập kỷ trước đó, đối với các nhà hoạch định chính sách thì VN mang lại một chất liệu tốt cho tư duy. Quan niệm, cho rằng VN có thể phản ánh những gì diễn ra ở một quốc gia được thống nhất bằng vũ lực nhưng vẫn bị chia rẽ bởi ý thức hệ, rất gần gũi với ý tưởng coi VN là sa trường huấn luyện cho quân đội HQ để chuẩn bị cho sự đụng độ không thể tránh khỏi với cộng sản Châu Á nói chung và Bắc Triều Tiên nói riêng. Quân đội HQ được huấn luyện những kỹ năng thực tiễn, trong số những kỹ năng thu được từ hàng sa số các nhiệm vụ tìm kiếm và phá hủy mà họ đã thực hiện; họ cũng được tìm hiểu và làm quen với những vũ khí mới (đáng chú ý nhất là M-16). Hơn nữa, VN cũng thể hiện chiến trường xảy ra xung đột với chủ nghĩa cộng sản mà họ sẽ phải chống lại trong trường hợp xung đột lại xảy ra trên bán đảo Triều Tiên32.

Quan điểm này về VN trong quan hệ với HQ chắc chắn sẽ lấn át quan điểm về sự quan trọng thực tế của CTVN đối với sự phát triển của HQ. Nó khiến cho việc xác định lợi ích của chiến tranh không khả thi, ngay cả khi nó cho thấy rõ vị trí của HQ trên thế giới và cho thấy sự bất lực của HQ khi đối mặt với chủ nghĩa đế quốc của Hoa Kỳ. Cả hai bài học sau này đều đã được học và khẳng định bởi các nhà sử học HQ. Bài học thứ nhất đã bế tắc. Cùng với một sự đánh giá thấp sự quan trọng kinh tế của CTVN đối với sự phát triển của HQ, hai vấn đề khác, ít nhận được sự phê phán hơn những vấn đề khác, cũng cần được nhắc đến. Vấn đề thứ nhất là câu hỏi về việc binh lính HQ có phải chỉ là lính đánh thuê kiếm tiền. Câu hỏi thứ hai là chủ ý trong các vụ thảm sát thường dân VN mà quân đội HQ gây ra.

Các ý kiến bị chia rẽ về việc quân đội HQ có phải là lính đánh thuê hay không33, nhưng đây không phải là câu trả lời mà là chỉ là bản thân sự tranh luận có ích. Sự tranh luận đã cho thấy rõ rằng các khuynh hướng đạo đức của việc tham chiến ở VN đã được đem ra tranh luận (nguyên tắc ngầm định là làm lính đánh thuê là sai về đạo đức, đồng thời tham chiến để xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản hay trả nợ thì không vô đạo đức), nhưng những khuynh hướng đạo đức này cũng bị hạn chế đối với HQ. Hầu như không có cuộc tranh luận nào về bản thân sự tham chiến; cuộc thảo luận chỉ tập trung vào tình trạng của nó. Đây là bối cảnh thường xuyên được tái hiện trong các tác phẩm giả tưởng về CTVN, kể từ khi vấn đề này có liên quan mật thiết với sự tự nhận thức của cựu chiến binh tham chiến ở VN.

Chủ đề thứ hai nghiêm túc hơn và có tác động sâu sắc hơn. Một phần do các cuộc tranh luận của Hoa Kỳ về các vụ thảm sát như Mỹ Lai thúc đẩy, báo cáo về các vụ thảm sát thường dân đã xuất hiện trong thời kỳ quân đội HQ tham chiến ở VN. Hiệu quả của quân đội HQ không thể tránh khỏi mức độ thiệt hại cao về thường dân34, đã khiến tổng tư lệnh Ch’ae Myŏngshin ban hành quy định về việc không gây tổn thương cho thường dân. Một điều tự hào đối với Ch’ae, đồng thời việc ban hành quy định cũng đóng vai trò lá cờ đỏ đối với các nhà sử học35. Trong hồi ký, Ch’ae đưa ra giải thích về nhiều vụ thảm sát thường dân như sau:

Các vụ thảm sát thường dân do Việt Cộng gây ra được dàn dựng trông giống như thể là người Mỹ đã gây ra chúng36.

Ông ta cũng khẳng định rằng các vụ thảm sát là do Việt Cộng và lính Bắc Triều Tiên ngụy trang thành lính HQ gây ra37. Trong khi những khẳng định này không thể được coi là đại diện, sự can dự của lính HQ trong nhưng vụ thảm sát là một chủ đề gai góc. Chủ đề này không ngừng được chính quyền VN nhắc lại và vẫn là một nguồn gây ra sự khó chịu đối với chính quyền HQ38. Mặc dù một nhà sử học đã ước lượng có 31 vụ thảm sát thường dẫn xảy ra chỉ riêng từ năm 1970 đến 197239, vấn đề này vẫn hầu như là bị lảng tránh trong cả lịch sử chính thống cũng như chuyên nghiệp. Các nhà sử học nói chung không để cập đến chủ đề này hoặc trích dẫn quy định nổi tiếng của Ch’ae Myŏngshin về việc “thà để 100 du kích trốn thoát còn hơn giết hại một người vô tội,” mặc định coi khẳng định đó là sự thật lịch sử.

Ngoại trừ trong các công trình gần đây của một số rất nhỏ các nhà sử học, sự can dự của HQ trong chiến tranh VN hầu như ít được nghiên cứu. Điều này rất đáng chú ý khi mà cuộc chiến tranh này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của HQ và sự quan trọng hiện tại của VN đối với HQ. Sự khái quát ngắn về quan điểm chuyên nghiệp và chính thống về CTVN cho thấy những quan điểm này không bắt nguồn từ lĩnh vực sử học chuyên nghiệp, vốn bị hạn chế đáng kể trong việc khảo sát và sự tương đồng của chúng với những quan điểm đã phổ biến đối với cả chính khách và thường dân. Như đã đề cập ở trên, nghệ thuật là một sự khởi đầu tốt để xem xét quan điểm về CTVN. Một trong những tác giả nổi tiếng nhất của HQ, Hwang Sok-yong, hầu như hoàn toàn tạo dựng sự nghiệp dựa trên những trải nghiệm về VN. Tác phẩm mới ra mắt của ông, Camel’s Eye (낙타 눈깔)40, là một câu chuyện ngắn về người lính HQ mới trở về từ VN và đang đợi tàu về nhà. The Shadow of Arms, được cho là tác phẩm giả tưởng vĩ đại nhất của Hwang, là một sự khám phá và châm biếm các cơ chế kinh tế và chính trị toàn cầu ẩn sau CTVN.

Chiến Tranh Việt Nam trong văn học

Sự tham chiến của quân đội HQ ở VN kéo dài một thập kỷ và đóng góp khoảng 350.000 binh lính, nhưng chỉ có rất ít tiểu thuyết và tường thuật chính thống bàn luận về chủ đề này. Những tiểu thuyết đó là The Shadow of Arms41 của Hwang Sokyong, The Faraway River của Pak Yŏnghan và White Badge của An Junghyo. Sự nghèo nàn của văn học CTVN ở HQ liên quan tới sự đóng góp “thụ động” của HQ đối với chiến tranh42. Sự biện minh cơ bản là do binh lính HQ tham chiến với tư cách lính đánh thuê nên cảm xúc phát sinh của họ không đủ để tạo ra tác phẩm văn học “thực” với bất kỳ số lượng đáng kể nào43. Sự thiếu vắng truyền thống văn chương về CTVN cũng được cho là hậu quả của sự lảng tránh chủ đề chiến tranh trong các thảo luận của công chúng HQ44. Bất kể lý do nào đằng sau hiện tượng này – vốn không thể tách khỏi sự thiếu quan tâm nói chung về CTVN – một số ít tiểu tuyết bàn luận về sự tham chiến của HQ có một số điểm tương đồng với quan điểm chung. Ngay cả khi The Shadow of Arms The Faraway River là sản phẩm của lực lượng tiến bộ trong xã hội HQ, sự thiếu vắng các tiểu thuyết về những mối lo ngại, bối cảnh và hoàn cảnh tương tự đã tạo ra tình hình mà sự diễn giải về mức độ quan trọng của CTVN không thực sự bị thách thức45. Một tình hình tương tự cũng diễn ra trong điện ảnh HQ, bởi vì mối liên hệ giữa văn học và điện ảnh thông thường là mạnh ở HQ.

Cả quan điểm chính thống cũng như phổ thông về sự tham chiến ở VN đều được tái hiện trong các tác phẩm này. Nhận thức về việc tiền là động cơ của sự tham chiến và các binh lính trẻ, thường xuất thân từ gia đình nghèo, đã hy sinh để cải thiện kinh tế, được trình bày chi tiết trong The Shadow of Arms46. Tiểu thuyết hoàn toàn chỉ bàn luận cơ chế kinh tế đứng sau chiến tranh hiện đại; nó có thể được hiểu là sự khám phá về động cơ kinh tế đưa đến và duy trì chiến tranh47. Cách tiếp cận phổ quát của tiểu thuyết này cũng nhấn mạnh chức năng phản ánh của VN liên quan đến HQ: HQ cũng trải qua cuộc nội chiến tương tự và bị quân đội Mỹ xâm lược. Nhân vật chính của The Shadow of Arms cũng nhận thức được vị thế của anh ta ở VN, bị kẹt giữa quân đội Hoa Kỳ và người VN. Cả trong tiểu thuyết cũng như trong các tiểu luận riêng biệt, Hwang phản ánh sự nghèo khổ là lý do chính khiến binh lính HQ tham chiến ở VN48. Đồng thời, Hwang phủ nhận trách nhiệm của những người lính HQ bình thường, khẳng định rằng HQ không có mấy sự lựa chọn:

Liệu có sự khác biệt nào giữa thế hệ của cha tôi, đăng lính cho quân đội Nhật Bản hay phục vụ cho các khát vọng liên Á của đế quốc Nhật Bản, và của tôi, được người Mỹ gửi tới VN để thiết lập một khu vực “Liên Mỹ” ở Viễn Đông trong Chiến Tranh Lạnh?49

Bị Hoa Kỳ ép buộc, khát vọng đế quốc của họ vốn cũng không kém cạnh so với đế quốc Nhật Bản vào những năm 1930 và 1940, HQ đưa quân đội tới VN và – đây là điều ngầm định – không phải gánh chịu trách nhiệm về những vụ thảm sát đã gây ra trong chiến tranh VN giống như những vụ thảm sát mà quân đội Đế Quốc Nhật Bản đã gây ra trong Thế Chiến II50. Cuốn tiểu thuyết không bao giờ trực tiếp đối mặt với các vụ thảm sát của HQ ở VN, nhưng trong một vài đoạn, Hwang thừa nhận rằng những nạn nhân trước kia của nội chiến và các vụ thảm sát của Hoa Kỳ đã trở thành kẻ thủ ác51. Tuy vậy, cuối cùng, cách tiếp cận của Hwang là phổ quát: các vụ thảm sát là sự thật không thể tránh khỏi của chiến tranh và không liên quan mấy đến quốc tịch của thủ phạm52 (mặc dù trong cuốn tiểu thuyết chỉ có các vụ thảm sát thực sự do lính Mỹ gây ra được mô tả, đồng thời Hwang im lặng về các vụ thảm sát do lính HQ có mối quan hệ cá nhân với ông gây ra)53. Cuốn The Shadow of Arms là tác phẩm bậc thấy có chất lượng rất tốt bởi vì nó cố gắng mô tả cơ chế tất yếu của chiến tranh hiện đại và những hậu quả đối của nó với thứ ngôn ngữ phổ quát được thể hiện không dễ chịu và không hạn chế.  Tuy vậy, đồng thời, việc Hwang mô tả song song người VN và người HQ trên góc độ họ phải đau khổ vì là người Châu Á trong thế kỷ 20 đã loại trừ mọi cảm giác về sai lầm của người HQ. Trên hết, người HQ cũng đau khổ như người VN và họ chịu đựng cùng nhau. Trong một đoạn gợi mở, Hwang đã tách lính HQ ra khỏi đồng minh Hoa Kỳ bằng cách cho một lính Mỹ nói đầy đạo đức giả với nhân vật chính rằng lính HQ trên thực tế cũng là người da trắng danh giá, cũng giống như phụ nữ HQ:

“Mày là người Hàn phải không? Gái xứ mày cũng xinh đấy. Có hai cô gái Hàn trong màn múa thoát y ở câu lạc bộ tối qua. Cả hai đều trông giống hệt như gái Mỹ.”

“Mày nói là câu lạc bộ Mỹ?”

“Phải, nhưng người Hàn có thể đến đó nếu như họ làm việc cho ban thanh tra. Nhưng đám gook thì không.”

“Gook là ai?”

"Đám Việt Nam, chúng thật sự bẩn thỉu. Nhưng tụi mày thì giống tụi tao. Chúng ta là đồng minh."54

Những diễn biến tiếp theo đã cho thấy rõ ràng rằng quân đội Hoa Kỳ không coi binh lính HQ hoàn toàn bình đẳng với lính Mỹ. Hwang kiên định trong trong lập luận cho rằng người Hàn và người Việt có nhiều điểm chung với nhau hơn là với người Mỹ. Ngay lúc đầu trong mối quan hệ của họ, trợ lý người VN của nhân vật chính An Yŏnggyu (Ahn Yong Kyu theo tiếng Anh) đã khẳng định rõ ràng trong một trong những bối cảnh chính của cuốn sách về sự tương đồng giữa người Hàn và người VN cũng như lịch sử tự hào của họ:

“Mày và tao, Ahn, cả hai chúng ta đều là gook. Đồ mọi Á.”

“Tao cho là tụi Mỹ nghĩ vậy.”

“Tao cũng nghĩ vậy. Không cần phải buồn phiền về điều đó.”55
  
Sự thật là khái niệm phân biệt chủng tộc nhất được dùng cho người VN là “gook”, sự châm biếm của đoạn này sẽ khiến độc giả khó có thể quên (nhất là khi Hwang giải thích từ “gook” được biến đổi từ từ “Hanguk”; trong Chiến Tranh Triều Tiên thì từ đó được dùng để chỉ người Triều Tiên theo cùng nghĩa phân biệt chủng tộc). Lính HQ không phải là người da trắng cũng như da trắng đáng kính; họ có chung những sự biến động trong định mệnh hiện đại với người VN. Tiếp đó trong cuốn tiểu thuyết, những đoạn đối thoại giữa An Yŏnggyu, một người Hàn, và đồng nghiệp VN và là bạn của anh ta đã đi theo cùng một hướng: người Hàn không có việc gì ở VN và họ biết điều đó, khi họ tự mình đi qua những trải nghiệm. Tới một mức độ nhất định, những trải nghiệm chung cho phép binh lính HQ thấy hình ảnh HQ được thể hiện ở VN. The Shadow of Arms chứa nhiều đoạn gợi nhắc những đau khổ của người Hàn trong Chiến Tranh Triều Tiên được phản ánh trực tiếp trong đau khổ của người VN56. Các binh lính của Ahn Junghyo cũng thấy quê nhà được gợi nhắc đến trong những trải nghiệm ở VN của họ: họ thường xuyên nhớ đến những trải nghiệm trong Chiến Tranh Triều Tiên, hầu hết là do những cậu bé người VN thường xuyên xuất hiện quanh gợi nhắc cho họ. Chức năng phản ánh của VN không chỉ giới hạn trong quá khứ; tương lai của HQ cũng được phản ánh trong tương lai của VN (vốn là hiện tại khi ba cuốn tiểu thuyết đã được hoàn thành và do vậy là hiện tại đối với độc giả của chúng) như là một quốc gia thống nhất. The Shadow of Arms đã tạo ra một sự liên hệ mạnh mẽ giữa tương lai của HQ và hiện tại của VN như là một quốc gia thống nhất57. Không may mắn thay, như đã trình bày ở trên, điều này có tác dụng như là một cơ chế để uốn nắn hình ảnh VN cho phù hợp với các mục tiêu của (chính quyền) HQ.

Mối liên hệ thân thiết của họ với người VN (thông qua trải nghiệm lịch sử chung cũng như di sản Châu Á chung) đã khiến người Hàn vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm: sự trung lập (“trước hết, không làm hại”) là lối thoát duy nhất, vừa đạo đức vừa thực tế. Hwang đã tiếp nhận quan điểm của HQ về CTVN, hoàn toàn đẩy sự lên án sang phía Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế, mặc dù cần phải nói rằng Hwang không thể hiện một lời biện minh đơn giản cho sự tham chiến của HQ như Ahn Junghyo đã làm (bằng cách khẳng định rằng binh lính HQ không có sự lựa chọn nào khác). Sự lập luận của Hwang không phải là không có giá trị; siêu phân tích của ông về cách thức chiến tranh hiện đại bắt đầu, diễn biến và duy trì đã áp đảo sự tham chiến của HQ ở VN và do vậy đã đẩy vấn đề phức tạp của sự lên án xuống phía sau. Từ tầm nhìn này, sự lựa chọn “không làm hại” mà nhân vật chính của Hwang theo đuổi là hoàn toàn có thể hiểu được. Sự biến mất tiếp đó của câu hỏi đạo đức cho thấy sự liên hệ với việc HQ tham chiến là logic và thông thường, trái ngược với cơ sở của những tường thuật quốc nội ở HQ. Trong đoạn dưới đây, khi nhân vật chính của The Shadow of Arms tham gia vào một tranh luận gay gắt với một lính Mỹ đào ngũ mà anh ta đã giúp trốn khỏi quân đội, quan điểm của Hwang được thể hiện:

Khi tôi làm việc với người Mỹ, điều mà tôi ghét nhất là phải nghe họ nói chúng ta giống nhau ra sao, tôi không khác với người Mỹ thế nào, và những điều rác rưởi tương tự khác. Cùng lúc đó tôi nghe người Mỹ thì thầm về sự bẩn thỉu của đám gook VN. “Gook” là từ mà lính Mỹ rút ra từ từ “Hanguk” hồi Chiến Tranh Triều Tiên, bị phát âm nhầm thành “Han-gook”. Người Mỹ dùng nó với nghĩa phân biệt chủng tộc. Tôi chỉ nói với người Mỹ rằng tôi giống người VN hơn.   

Điều kiện sống mà chúng tôi đang trải qua hiện giờ cũng chính là những điều kiện mà hầu hết người Châu Á đã phải chịu đựng trong thế kỷ qua. Ở nhiều lục địa, người da trắng đã chém giết lẫn nhau, giống như thú săn mồi hành hạ con mồi. Đừng lảng tránh sự thật. Ngay cả khi anh từ chối tham gia cuộc chiến dơ bẩn này và trốn thoát, anh sẽ phải sống nốt phần đời còn lại với những gì đã thấy trên chiến trường. Đó là điều tương tự với tôi, tất nhiên, nhưng tôi phải chuẩn bị tư tưởng khi tôi trở về nhà. Trên báo chí nước anh, tôi thấy những bức ảnh về người biểu tình giơ cao khẩu hiệu: “Chúng tối không muốn chết cho VN!” Điều gì nực cười hơn thế nữa? Cái gì cơ? Chết cho VN? Lính của nước anh đổ xô tới đây từ những con hẻm sau nhà của các khu ổ chuột bẩn thỉu, từ các quán bar tăm tối mà họ uống say khướt, từ các siêu thị mà họ lao tới với phiếu giảm giá, từ những sàn nhà trơn trượt nằm dưới gầm xe hơi. Anh hỏi tôi tại sao? Bởi vì con cái của gia đình giàu có không đến đây, đó là lý do. Hãy hỏi các doanh nhân và thương nhân đang điều khiển chính trị ở nước của anh xem. Đối với họ thì anh phải chết như một con chó trong đầm lầy ở VN58.

Tuy vậy, một yếu tố rất có vấn đề ẩn giấu phía sau quan điểm của Hwang. Trong tiểu luận đã được nhắc đến ở phía trên, Hwang khẳng định một cách thẳng thừng rằng việc HQ hiện giờ cũng đang trong tình trạng đặt ra câu hỏi về các vụ thảm sát do binh lính HQ gây ra ở VN chỉ cho thấy rằng HQ đã thành công trong việc tạo dựng giải phóng kinh tế (và do đó là tâm lý) hay thoải mái tận hưởng “sự nhân đạo phương Tây”59. Tạm gác lại vấn đề về đạo đức đáng ngờ (và lười biếng) nằm sau khẳng định này, nó cho thấy một khuynh hướng đạo đức khó chịu của sự tham chiến đang đòi hỏi phải được giải quyết. Câu hỏi đạo đức dường như không hoàn toàn biến mất. Lập luận này, vừa trung thực vừa nguy hiểm, cũng xuất hiện dưới một dạng đơn giản hơn trong White Badge, trong đó việc thảm sát thường dân được coi là đáng tiếc nhưng không thể tránh khỏi60. Tuy vậy, lập luận này chỉ được áp dụng cho VN; chừng nào mà nó được áp dụng cho HQ trong Chiến Tranh Triều Tiên, những cân nhắc cá nhân sẽ phải được đặt ra. Sự xung đột giữa việc buộc phải thảm sát người vô tội trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào và sự thảm sát trong Chiến Tranh Triều Tiên xuất hiện trong cả ba cuốn tiểu thuyết và không được giải quyết ở bất cứ đâu. Dĩ nhiên giải pháp của nhân vật chính trong The Shadow of Arms chỉ mang tính tình thế: duy trì sự trung lập đến chừng nào có thể. Nhân vật chính tự hứa với bản thân là không làm điều gì sai và không kiếm lợi từ chiến tranh bằng cách đánh đổi người VN. Tuy vậy, HQ đã kiếm lợi từ chiến tranh. Các ước lượng chi tiết đáng tin cậy không có sẵn, nhưng trên phương diện tài chính thuần túy, gần 10% GNP của HQ được tạo ra trực tiếp từ CTVN, kéo dài từ năm 1968 đến năm 197361. Sự thừa nhận về tiền bạc, hàng hóa và đặc quyền mang về quê nhà từ VN đã xuyên suốt cả ba cuốn tiểu thuyết, nhưng không có cuốn nào (kể cả cuốn của Hwang, vốn nhận thức rất rõ về nguyên nhân và hệ quả kinh tế) theo đuổi một sự đánh giá về việc tiền đã được sử dụng ra sao khi được đưa về HQ62. Các yếu tố tạo thành câu chuyện về cách thức CTVN tài trợ cho sự tăng trưởng kinh tế của HQ đều có sẵn nhưng câu chuyện đã không được tạo ra,

Cuối cùng, ngay cả khi binh lính tham chiến cũng không coi chiến tranh VN như một cuộc chiến của HQ. Người HQ không thuộc về nơi đó, họ ở đó chỉ là bởi vì họ bị hoạt động của đế quốc Hoa Kỳ lôi kéo vào cuộc chiến. Kết quả là mọi sự lên án đạo đức gắn với CTVN bị đẩy sang phía Hoa Kỳ. Điều còn lại là sự đau khổ của người Hàn, cũng giống như sự đau khổ của người VN, đều do Hoa Kỳ gây ra. Trong khi Faraway River White Badge nhấn mạnh vào sự đau khổ của binh lính HQ ở VN (cũng như các cựu chiến binh trở về nhà), bị mắc kẹt giữa chỉ huy của họ và quân đội Hoa Kỳ, The Shadow of Arms đẩy sự lên án về phía Hoa Kỳ:

Chúng tôi ở đây bởi vì anh yêu cầu chúng tôi tới. Chính quyền của các anh muốn chúng tôi tham gia để bảo vệ sinh mạng của thanh niên Mỹ. Chúng tôi chẳng có gì liên quan đến cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Thật sự là chúng tôi đã bán mình cho mớ tiền còm cõi mà anh đã ném vào mặt chúng tôi, và giờ thì chúng tôi ở đây. Nhưng đừng quên rằng hai người lính đó vừa mới thoát khỏi những trận giao tranh do mệnh lệnh từ sở chỉ huy của các anh giao cho họ. Họ ở chiến tuyến thay cho anh. Tiền mà anh biển thủ và không trả lại là tiền máu!63

Sự xung đột giữa động cơ tham chiến ở VN của HQ, sự đau khổ của binh lính và sự đau khổ của người VN không được giải tỏa trong những cuốn tiểu thuyết đề cập đến chúng. Trên hết, các tiểu thuyết về CTVN đẩy vấn đề sang phía Hoa Kỳ, vốn được coi là chủ mưu. Hơn nữa, VN không phải là trung tâm của tiểu thuyết như HQ, ngay cả khi một sự phê phán có ảnh hưởng cho rằng cuốn tiểu thuyết như The Shadow of Arms cần phải có nhiều liên hệ rõ ràng với tình hình của HQ để nhấn mạnh sự quan trọng của nó trong vai trò là một cuốn tiểu thuyết cho xã hội HQ64.

Mặc dù không có cựu chiến binh tham chiến ở VN nào giống như ba tác giả đã đề cập phía trên và điều đó cũng không nằm trong phạm vi bài báo này, tác phẩm của Pang Hyŏnsŏk không thể không đề cập ở đây. Một ngoại lệ đáng chú ý trong bối cảnh văn chương ở HQ theo nghĩa cuốn sách của ông ta mô tả VN theo khía cạnh của nó (hay ít nhất là không chỉ theo khía cạnh của HQ), cuốn tiểu thuyết của Pang Hyŏnsŏk bàn luận không trực tiếp CTVN và vị thế của VN ở HQ. Một thành viên sáng lập của Hiệp Hội Nhà Văn Trẻ Vì Hiểu Biết Vietnam (베트남을 해하려는 젊은 작가들의 모임 ), Pang đồng thời là một nhà văn từ những năm 1980 trở lại đây đã thể hiện là người ủng hộ kiên định của các lực lượng tiến bộ trong xã hội HQ. Trong cuốn Form of Being 존재의 형식 (năm 2003 nhận được giải thưởng văn chương Hwang Sunwŏn 순원문학상), ông tiến công vào vấn đề dịch thuật văn chương và đối thoại văn hóa bằng cách cho một nhà văn HQ hợp tác cùng với một biên dịch viên VN để dịch một kịch bản phim về CTVN65.Trong tiểu thuyết Time To Have Lobsters 랍스터를 먹는 시간, ông đã ghi lại đoạn hội thoại dưới đây về chiến tranh VN và quyết định đưa quân đội HQ tới đó:

Chúng tôi cũng biết rằng Hoa Kỳ không đúng. Nhưng chúng tôi vẫn không thể chống lại lệnh của Hoa Kỳ, thế nên chúng tôi đưa quân tới, bất chấp sự phản đối của người dân. Có khi nào họ gọi binh lính được gửi tới Iraq là “lính Roh Moo Huyn” giống như anh gọi binh lính được gửi tới VN là “lính Park Chung Hee”? Kŏnsŏk cố gắng lảng tránh điều đó với một câu chuyện đùa. Nhưng Pham Banh Cuc không hiểu. Nụ cười trên khuôn mặt anh ta đã biến mất:

“Tức là người dân Iraq hiểu rằng HQ đến chỗ họ với súng chĩa vào họ, giống như ở VN. Anh không nghĩ là điều đó quá đơn giản sao?”

“Nhiều người Hàn cảm thấy đáng tiếc về VN.”

“Rồi tất cả họ cũng sẽ cảm thấy đáng tiếc về Iraq, khi mà mọi chuyện đã qua đi.”66

Sự tích cực về văn chương và xã hội liên quan đến VN của Pang gợi nhớ đến sáng kiến Hangyŏre 21 mà Hwang Sok-yong ủng hộ. Cũng giống như sự cô lập đáng kể của sáng kiến liên quan đến việc tiếp tục nhận thức của HQ về tư tưởng VN, văn chương của Pang (ít nhất là đối với quan điểm của ông về VN) cũng chỉ hạn chế trong một thiểu số nhỏ: cũng là thiểu số có cảm tình với sáng kiến Hangyŏre 21. Nhận thức phổ thông của người HQ về VN không phải là đơn nhất; có những quan điểm đối lập nhau, nhưng chúng được ít người biết tới. So với những đóng góp to lớn của HQ vào CTVN và tầm ảnh hưởng lớn đối với sự hình thành của xã hội HQ đương đại, các nhà văn viết đã rất ít về cuộc chiến tranh này, và từ góc độ dễ gây tổn thương như của Pang thì còn ít hơn nữa.

Chiến tranh VN trong điện ảnh

Một số bộ phim nổi bật về sự tham chiến của HQ trong CTVN đã được sản xuất67. Trên hết trong số chúng là chuyển thể điện ảnh của The Shadow of Arms, nhưng sau nhiều năm đồn thổi về việc sản xuất nó (một đạo diễn đã được chọn và dự án được cho là đồng sản xuất với chính quyền VN), bộ phim vẫn chưa được thực hiện. Một tiểu thuyết khác đã được chuyển thể thành phim: White Badge, do  An Sŏnggi thủ vai chính, được phát hành năm 1992. Bộ phim về VN này tiếp sau phim kinh dị R-point năm 2004, là phim kinh dị tuổi thiếu niên Muoi vào năm 2005 và Sunny (một sự dịch thuật tai hại từ tên gốc có nghĩa là My Love in a Faraway Place) vào năm 2008. Tính tất cả, một số lượng phim rất nhỏ về CTVN đã được sản xuất, đặc biệt là khi so với số lượng phim của Mỹ về CTVN. Raybang trên thực tế không được tính đến trong số những bộ phim này, do nó không đề cập tới CTVN và chỉ sử dụng VN như là biểu tượng. Song nghịch lý thay, đây là bộ phim duy nhất đề cập tới tác động thực sự của trải nghiệm VN đối với xã hội HQ.

Điện ảnh HQ có truyền thống mạnh mẽ về việc sản xuất các bộ phim phê phán xã hội đương đại với các loại hình hiện thực, châm biếm, hài kịch hay bi kịch. Tuy vậy, cũng giống như văn chương về CTVN, thái độ phê phán không dễ dàng xuất hiện trong các bộ phim về VN. White Badge là một sự chuyển thể trung thành của tiểu thuyết, thể hiện sự tuyệt vọng của cựu chiến binh HQ tham chiến ở VN, có sự đau khổ không được thừa nhận và hồi ức không được phép trong lĩnh vực công khai68. Sự nhấn mạnh của bộ phim vào trải nghiệm bi kịch của cựu chiến binh tham chiến ở VN, được thể hiện rõ ràng qua nhân vật chính, một cựu trung sĩ đã kết thúc bằng cách tự tử. Ý tưởng và sự triển khai của White Badge rất giống với phim điển hình về CTVN của Hoa Kỳ: lảng tránh mọi sự đối đầu trực tiếp với vấn đề HQ tham chiến ở VN, tập trung vào sự đau khổ của binh lính HQ và giảm nhẹ một cách đáng kể sự đau khổ của người VN. Đồng thời, cảm giác đặc biệt về những trải nghiệm được phản ánh xuất hiện, người VN trải qua những gì mà người Hàn đã trải qua nhiều thập kỷ trước đó. Cảnh tiết lộ diễn ra trong một câu lạc bộ tình dục ở It’aewŏn, quận ăn chơi thường xuyên được lính Mỹ đóng quân ở Seoul lui tới. Sự tương đồng giữa người VN và người HQ được nhấn mạnh bằng cách thể hiện phụ nữ Hàn (lao động tình dục) phục vụ lính Mỹ, những cảnh trước đó trong bộ phim đã mô tả phụ nữ VN phục vụ binh lính HQ. Sự so sánh giữa người Việt và người Hàn được diễn tả lặp đi lặp lại (trong cả ngôn ngữ và hình tượng của tiểu thuyết), đồng thời sự so sánh ngầm giữa lính HQ ở VN và lính Mỹ ở HQ bị bỏ qua. Những bối cảnh khác trong tiểu thuyết (có trong cả hai cuốn tiểu thuyết của Hwang và Pak đã được đề cập phía trên) cũng xuất hiện trong phim. White Badge thể là chuyển thể điện ảnh của lời biện minh thường xuyên được sử dụng, giải thích các vụ thảm sát thường dân là: binh lính HQ nhầm lẫn, không phân biệt được đâu là kẻ thù và họ chịu thiệt hại nhân mạng (do bẫy mìn) trước khi sát hại cả toàn bộ dân chúng của một làng.

Bối cảnh nghèo khổ cũng nổi lên. Trước khi lên tàu sang VN, binh lính trong trung đội tụ tập và uống say. Đến cuối buổi tối say sưa, máy quay phim chiếu cận cảnh bức tường, nơi có ai đó viết: “Hãy đợi anh, Sunja, anh sẽ quay trở về với sự giàu có từ VN.” Cuối cùng, ý tưởng cho rằng VN là bài thực hành cho Kwangju quay lại trong bi kịch chung cuộc của bộ phim: nhân vật chính đón cựu hạ sĩ quan của anh ta ở bệnh viện, tại đó viên hạ sĩ đã chấp nhận bị cắt mất tai (trong một ca phẫu thuật, giống như số phận tương tự của những Việt Cộng đã chết và những thường dân VN đã chết bị báo cáo là Việt Cộng). Đi trên những đường phố của Seoul, những anh lính lạc lõng trong cuộc biểu tình của sinh viên và những cảnh bạo lực của cảnh sát, nhấn mạnh rằng VN là khúc dạo đầu và là sự ám chỉ tới những đau khổ của HQ hiện đại. Bộ phim Sunny năm 2008 đã được chờ đợi nồng nhiệt, khi Yi Chunik làm đạo diễn. Yi cũng là đạo diễn của phim The King anh the Clown, một phim lịch sử nhạy cảm về tình yêu giữa hai người đàn ông và Once upon a Time in a Battlefield, một bộ phim hay về lịch sử, xung đột địa phương và sự hy sinh cá nhân, trái ngược với tiêu đề tiếng Anh ngây ngô của nó.

Yi Chunik cũng chứng tỏ bản thân là một đạo diễn sáng tạo, không ngại ngần tấn công các chủ đề nhạy cảm như tình dục đồng giới và chủ nghĩa địa phương. Hơn nữa, ông còn làm điều đó theo hướng cho phép các điều cấm kỵ ấy được thảo luận trong xã hội. Trong cả hai bộ phim, Yi đã thành công trong việc giúp cho các nhóm thiểu số câm lặng (và bị áp bức) bày tỏ tiếng nói. Trong cảm xúc của người xem, đó là một bộ phim mạnh mẽ thể hiện nỗ lực của một phụ nữ cố gắng tìm kiếm người chồng đang tham chiến ở VN để thụ thai và mang bào thai về nhà. Mẹ chồng thúc giục cô làm như vậy, Sunny là một bức tranh nhạy cảm về người phụ nữ vật lộn với chế độ gia trưởng. Đây cũng là một câu chuyện có tính thời đại về một cô gái nông thôn ngây thơ và trinh trắng bị biến thành một nghệ sĩ giải trí từng trải và chín chắn về tình dục. Bối cảnh của câu chuyện ở VN tạo ra tính bi kịch đủ lớn để thu hút khán giả vào nhiệm vụ phi lý của Suni, nhưng đồng thời nó cũng mang đến cho bộ phim hương vị thuộc địa và viễn đông trong phạm vi truyền thống đen và trắng của điện ảnh viễn đông Anh Quốc. Người VN không nổi bật trong Sunny, chỉ là một nhóm (đã được dự báo) tú bà, gái mại dâm, thanh niên ngây thơ, du kích Việt Cộng (người này chỉ thừa nhận là lính Việt Cộng khi mọi việc đã quá muộn). Trong một cảnh đáng nhớ, Suni và cả nhóm bị một nhóm Việt Cộng bắt giữ và hỏi tại sao họ tới đây. “Để kiếm tiền”, họ trả lời, viên chỉ huy Việt Cộng đáp lại: “Thế là tụi mày đến đây với cùng một lý do như quân đội HQ.” Cảnh này đáng nhớ cả vì nó cho thấy rõ ràng đạo diễn nghĩ gì về vai trò của quân đội HQ ở VN cũng như người đa sầu đa cảm bẽn lẽn và đơn giản được thể hiện sau đó. Khi cả nhóm bị đưa đi hành quyết, Suni bắt đầu hát, giải tỏa những cảm xúc dồn nén của du kích VN. Cả nhóm sau đó trở thành khách, làm việc cùng với các du kích Việt Cộng và gia đình của họ, đào hào và sau đó vào buổi tối tất cả bọn họ cùng đến để nghe Suni hát, đung đưa và vỗ tay theo những bài hát HQ của cô. Quan niệm cho rằng người Hàn và người Việt về cơ bản là giống nhau và chỉ có cuộc chiến tranh (hay nói cách khác là Hoa Kỳ) là chia rẽ họ được thể hiện rõ ràng trong phần cuối của bộ phim. Sau khi trại ngầm của du kích bị quân đội Mỹ đột kích, du kích bị giết hoặc bắt làm tù binh, một lần nữa âm nhạc lại cứu cả nhóm. Khi ba chỉ huy của quân du kích bị hành quyết tại chỗ, trưởng nhóm bắt đầu hát bài Star-Spangled Banner, thể hiện sự tương đồng giữa người Hàn và người Mỹ. Sự tái lập sự khác biệt giữa họ với người VN khi đối mặt với quân đội Hoa Kỳ, các thành viên HQ sống sót nhờ hát giai điệu của Hoa Kỳ. Mặc dù đạo diễn có thành tích và đã từng biến một bộ phim về tình dục đồng giới thành bộ phim nổi tiếng nhất từng được sản xuất ở HQ (cho đến khi kỷ lục này bị bộ phim The Host vượt qua vào năm sau), ông cũng không khám phá tiếp về sự mập mờ căn bản trong vị thế của HQ ở VN. Trong khi bộ phim là câu chuyện về một người phụ nữ phiêu lưu trong môi trường nam giới thống trị hoàn toàn, và trong khi nó không thu hẹp những sự lựa chọn khó khăn (như khi Suni đồng ý ngủ với viên chỉ huy người Mỹ vì anh ta có thể giúp cô tìm chồng), Sunny là bộ phim đơn thuần lấy HQ làm trung tâm, trong đó VN chỉ là bối cảnh để gia tăng thêm cho sức nặng của những lo lắng trong nước.

Dĩ nhiên truyền thống trình diễn về CTVN quá mạnh để đạo diễn có thể vượt qua hoặc ông có thể muốn đưa ra một số quan điểm khác, nhưng sự mô tả mập mờ về sự bất lực hoàn toàn của quân đội HQ ở VN trong việc tự ra quyết định hoặc giúp Suny tìm chồng chỉ củng cố thêm luận điểm đã có về văn học, sử học và điện ảnh HQ liên quan đến VN: quân đội HQ chỉ là lính đánh thuê ở VN. Họ không cần phải có tiếng nói trong hành động và hệ quả là không phải gánh chịu trách nhiệm. Trong bộ phim này, cũng như văn học về chủ đề này, trách nhiệm cần được đặt vào quân đội Hoa Kỳ.


Bộ phim kinh dị Muoi: Legend of a Portrait, trong phim một nữ văn sĩ HQ viếng thăm người bạn già ở VN và bị bi kịch gắn với bức chân dung của một cô gái trẻ cuốn hút, hoàn toàn theo nghĩa là một bộ phim thực dân. Muoi là dạng phim kinh dị viễn xứ lấy bối cảnh một nơi kỳ thú ở nước ngoài. Bối cảnh đầu tiên là một khu Vườn Địa Đàng có thực: thảm thực vật nhiệt đới tươi tốt được tô điểm bằng các nam gia nhân và nữ hầu xinh đẹp mặc áo dài. Đó là một nơi bí ẩn mà tiền mua được nhiều thứ hơn ở quê nhà: vai phản diện có thể sống xa hoa trong căn biệt thự của bà ta với gia tài mang theo từ HQ. Bất chấp những khung hình đẹp và kỹ thuật quay phim khéo léo, cho thấy VN trong những chi tiết quyến rũ, bộ phim này không nói về VN. Đó là phim về HQ và hầu hết là về sự tưởng tượng của người Hàn về VN. Đồng thời phần của HQ trong CTVN không được thảo luận cũng như dẫn dắt, sự tương đồng giữa lịch sử gần đây của VN và HQ chỉ được phác thảo vài lần.

Góc độ thực dân trong cách người Hàn tưởng tượng về VN cũng được thể hiện rõ trong một phim kinh dị khác là R-point. Vượt trội trên tất cả mọi góc độ (quay phim, giá trị sản xuất, diễn xuất, kịch bản, đạo diễn, biên tập, vân vân…), đó là câu chuyện về một trung đội lính HQ được điều tới một nông trại của Pháp bị bỏ hoang (được gọi là R-point), tại đó họ phải tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra với một trung đội lính HQ khác đã mất tích. Những điều kỳ lạ bắt đầu xảy ra và binh lính bắt đầu phát điên hoặc đột tử, đồng thời mọi thứ trở nên rõ ràng là người Hàn trở thành mục tiêu bởi vì họ xâm lược và chiếm đóng VN. Nông trại được xây dựng trên một cái hồ bị lấp, nơi từng là chiến trường giữa quân xâm lược Trung Quốc và quân đội VN. Một tấm bia xuất hiện vào cuối bộ phim, trên đó viết rằng tất cả những kẻ xâm lược VN đều sẽ bị giết. Người Hàn, trong vai trò một đồng minh của người Mỹ, cũng bị coi là những kẻ xâm lược như người Trung Quốc, người Pháp và người Mỹ, tất cả đều sẽ bị giết chết tại cùng một nơi. R-point là một ngoại lệ theo nghĩa là trực tiếp lên án quân đội HQ vì đã xâm lược VN. Một lần nữa, cũng giống như các bộ phim khác, người VN không thực sự được khắc họa trong bộ phim này, nhưng thông điệp của R-point là rõ ràng: những kẻ xâm lược là sai về mặt đạo đức và sẽ bị trừng phạt – ít nhất là trong phim kinh dị, nếu không phải là trong đời thực. Các thức huyền ảo mà R-point được tạo ra khiến người ta hầu như không phân định được rằng những người lính Hàn bất hạnh là nạn nhân trong sự trả thù của những hồn ma VN, thủ phạm hay cả hai, gợi nhớ đến The Shadow of Arms, trong đó thế lưỡng nan tương tự cũng được trình bày nhưng không được giải quyết. R-point đã tiến thêm một bước trong việc đưa ra lời lên án; bộ phim vẫn phù hợp với tư tưởng thông thường của người HQ, khi nó thể hiện binh lính HQ ở VN trước hết là nạn nhân (của chính quyền, Hoa Kỳ và Việt Cộng), trước khi thừa nhận quyền lực thực dân mà họ thi hành (và sự lạm quyền). Tính đạo đức giả của Muoi hay White Badge, những bộ phim nhấn mạnh sự đau khổ chung của VN và HQ, không xuất hiện, nhưng người VN vẫn không xuất hiện (trong bộ phim này có thể nói theo nghĩa đen như vậy).

Cuối cùng, Raybang, trong khi không phải là một bộ phim về VN, dĩ nhiên là biểu tượng đẹp nhất về VN trong trí tưởng tượng của công chúng HQ. Bộ phim ít đề cập đến VN, nhưng thiếu VN thì sẽ không có bộ phim. VN được mô tả như là nơi mà những giấc mơ sẽ trở thành hiện thực và vẫn có thể kiếm được tiền (như bức ảnh cũ kỹ về ông chú đeo kính Ray-Bans đứng cạnh một phụ nữ VN xinh đẹp cho thấy). Sự ám chỉ về VN có ba phần: nó tồn tại trong lịch sử của chiếc kính râm, trong giấc mơ của ba tài xế taxi về việc trốn sang VN để sống cuộc sống tốt hơn và trong việc so sánh giữa sự hi sinh cho kinh tế của thế hệ người chú với sự hi sinh cho kinh tế của thế hệ hiện tại, trong khi cùng phải chịu đựng chung một sự lảng tránh. VN thường xuyên bị giấu đi, nhưng luôn luôn hiện diện như là nơi của những giấc mơ chưa thành hiện thực và những hy sinh chưa được thừa nhận.


Nhận thức về VN

VN đã nhận được sự quan tâm lớn ở HQ vào những năm 90 và những năm gần đây trong thiên niên kỷ mới. Sau khi quan hệ ngoại giao được khôi phục vào năm 1993, doanh nhân HQ bắt đầu tới VN để tuyển dụng thực tập sinh (rẻ hơn công nhân HQ và dễ xin giấy phép lao động hơn), thuê ngoài các hoạt động chế tạo và lập các văn phòng hay nhà máy chi nhánh69. Những bài báo do doanh nhân HQ viết ngay sau khi tái lập quan hệ ngoại giao cho thấy họ phản ánh tư tưởng phổ thông về VN70. Tác giả sắp xếp sự kích động nhuốm màu sợ hãi theo cách ít nhiều phản ánh các tác phẩm của những tác giả thực dân viếng thăm các tỉnh ngoại vi của đế quốc: Có thể nói rằng người HQ viếng thăm VN gần đây đã trải qua các hiện tượng kỳ lạ của trải nghiệm cá nhân về sự siêu việt của người HQ chứ không phải nỗi sợ hãi đối với chủ nghĩa xã hội71.

Sự kết hợp giữa nỗi sợ hãi những điều bí ẩn và cảm giác siêu việt là phép chuyển nghĩa thực dân nổi tiếng (nhất là khi kết hợp với sự bóc lột kinh tế đối với thực tập sinh và công nhân VN ở HQ vào những năm 1990). Thái độ tương tự cũng được phản ánh trong sự thanh thản mà tác giả triển khai hình mẫu thực dân để lảng tránh những hồi ức về sự tham chiến của HQ trong CTVN. Người VN, cũng giống như các dân Đông Nam Á khác, đã dễ dàng quên sự đau khổ của họ và “quá khứ là quá khứ.”72 Hơn nữa, như tất cả các tác giả đã khẳng định, người VN giờ đây cũng giống như người Hàn: “Những nỗi sợ hãi từ chiến tranh vẫn hiện diện nhưng người VN đã quên việc HQ  sát cánh của Hoa Kỳ trong CTVN.”73 Chiến tranh vẫn hiện diện trong hồi ức của khách du lịch HQ; nó không bị quên lãng, chỉ bị đè nén và lảnh tránh, giống như con cừu đen trong gia đình, ông chú ngây ngô mà không ai muốn gặp. Đồng thời, tác giả thường xuyên vui vẻ đến thăm đất nước này, tìm kiếm “Hòn Ngọc Viễn Đông”, như người Pháp đã từng gọi Hà Nội74. Tất cả các trang viết của ông ta đều toát lên cảm giác hoài niệm về một thuộc địa đã mất của thời xa xưa. Khi nhắc lại rằng “những ngôi làng nông thôn của người VN cũng giống như những ngôi làng nông thôn của HQ”75, tác giả đã hoàn toàn chìm đắm trong giấc mơ của thời thực dân. Sự hiểu biết về chiến tranh của ông ta dường như mất tích. Bất cứ nơi nào ông ta tới, ông ta đều nghe thấy rằng “Ttaihan [HQ] là số một!”76 Không ở đâu ông ta vướng vào một cuộc tranh luận về chiến tranh, hay thậm chí là trong tác phẩm du hành của ông ta.

Di tích duy nhất còn lại của chiến tranh được cho phép tham gia vào hiện tại là cái mà ông ta (và những người khác) gọi là “thế hệ thứ hai của Ttaihan”, hay những đứa trẻ có bố là người Hàn và mẹ là người Việt. Toàn bộ chiến tranh bị rút gọn lại thành những đứa trẻ đó, nhiều trong số chúng có cuộc sống khó khăn vì nguồn gốc của bản thân. Nói tóm lại, quan điểm dạng này (tràn ngập trong các tác phẩm du hành được xuất bản trên các tuần báo và nhật báo phổ thông) là thực dân và bảo hộ theo nghĩa đen: tác giả đề cập tới một vài doanh nhân có mối quan tâm huyết thống với thế hệ trẻ em Ttaihan thứ hai và thể hiện vai trò là cha của chúng. Mọi cảm giác về sai lầm liên quan đến chiến tranh đều được thăng hoa trong mối phẫn nộ đúng đắn liên quan đến số phận của con lai Hàn-Việt và những hậu quả của sự tham chiến của HQ chỉ được coi là thiệt hại về con người đối với thế hệ thứ hai của Ttaihan ở VN.

VN hầu như biến mất khỏi nhận thức phổ thông và chỉ tái xuất hiện dưới dạng nơi thực hiện những ước mơ, một phần là bởi vì những gì cựu chiến binh tham chiến ở VN nhận được khi trở về quê nhà. Hướng tới việc kết thúc sự can thiệp quân sự ở VN, sự tiếp nhận cựu chiến binh ở HQ đã thay đổi nhanh chóng, trở thành tiêu cực vào đầu những năm 1970. Có một số yếu tố đóng góp vào sự thay đổi này: thái độ của truyền thông Hoa Kỳ, ngày càng trở nên tiêu cực, số lượng thiệt mạng gia tăng của lính HQ, các chiến thắng của quân đội Bắc Việt và cuối cùng là sự hiểu biết gia tăng của xã hội HQ về các vụ thảm sát thường dân VN mà quân đội HQ gây ra77. Theo một nhà xã hội học: 

Những yếu tố quyết định nhất đối với hồi ức về VN không bao giờ được coi là hồi ức chung, trên thực tế đó là trải nghiệm của một nhóm thiểu số, không bao giờ được người dân HQ chấp nhận; hệ quả là sự đồng cảm của tất cả mọi người nói chung không bao giờ đạt được78.

Nếu như chúng ta bổ sung thêm sự kiểm duyệt, sự đè nén và sự đảo ngược của hồi ức vào đẳng thức, khẳng định này rõ ràng là chân thật. Kết quả là một số thứ theo kiểu phương đông hóa VN đã diễn ra. Trên nền sự phát triển kinh tế thần tốc của HQ và sự thèm khát đối với đầu tư ra nước ngoài của họ vào những năm 1990, VN được tái cấu trúc trong nhận thức phổ thông thành nơi của những tiềm năng, nơi mà người ta có thể tới và tạo ra điều gì đó cho bản thân. Chiến tranh dường như phải bị quên lãng. Khi nói với chủ tịch VN vào năm 1992 ngay trước khi tái lập quan hệ ngoại giao, tổng thống Roh Dae Woo (một cựu binh tham chiến ở VN) đã bóng gió đề cập đến chiến tranh. Ông ta tuyên bố: “Tôi cảm thấy đáng tiếc về những thời kỳ bất hạnh trong lịch sử của chúng ta.”79 Kim Dae Jung đã thận trọng khi nói với chủ tịch VN vào năm 2001: “Tôi lấy làm tiếc về sự thật là việc tham chiến vào một cuộc chiến tranh bất hạnh mà chúng tôi không sẵn sàng đã gây ra cho người dân VN những đau khổ và xin gửi tới các bạn những lời chia buồn.”80

Mặc dù chiến tranh chỉ được liên hệ một cách không trực tiếp song rõ ràng là trách nhiệm về những gì đã xảy ra không nằm ở phía HQ. Đồng thời, VN được coi là mối quan tâm mới ở HQ và trong nhận thức phổ thông của HQ. Với việc HQ là nhóm di dân lớn thứ hai ở VN (54.000 vào năm 2007 và 84.000 vào năm 2009)81, đầu tư ở Việt Năm tăng từ 2 tỷ dollar vào năm 1996 lên 11 tỷ dollar vào năm 20782. Có khoảng từ 2.000 đến 3.000 trung tâm môi giới được thành lập ở HQ để môi giới hôn nhân giữa phụ nữ VN và đàn ông HQ83. Các biển quảng cáo “Trinh nữ VN베트남 ” thường xuyên xuất hiện ở các khu vực nông thôn. Các trung tâm này có vẻ khá hiệu quả: từ năm 2006 trở lại đây có khoảng 5.000 phụ nữ VN kết hôn với đàn ông HQ mỗi năm (chủ yếu là nông dân), nhằm tìm kiếm sự ổn định tài chính và phong cách sống xa hoa mà Làn Sóng Hàn phổ biến (phim truyền hình ủy mị dài tập rất được ưa chuộng ở VN)84. Các hướng dẫn thực hành, lịch sử phổ thông về VN và bộ tra cứu tiếng Việt tràn ngập thị trường, mặc dù những điều đáng chú ý trong lịch sử tham chiến của quân đội HQ ở VN hiếm khi được đề cập (nếu không nói là hoàn toàn không)85. Sự quan trọng hiện tại của VN đối với HQ bị phức tạp hóa bởi quá khứ chung của hai quốc gia. Khi tổng thống Lee Myoung Bak viếng thăm VN vào năm 2009, xung đột đã vây quanh việc chuẩn bị chuyến tham. Giống như người tiền nhiệm Roh Moo Hyun, Lee quyết định tới thăm lăng Hồ Chí Minh để đặt vòng hoa, giải thích rằng Hồ “trong vai trò lãnh đạo của nhân dân VN là biểu tượng mà tôi không thể vờ như không biết đến.” Ông ta làm việc đó bất chấp sự phản đối quốc nội đáng kể chống lại ý tưởng của tổng thống HQ về việc bày tỏ sự tôn kính đối với một người từng là kẻ thù của quốc gia. Cả Kim Young Sam lẫn Kim Dae Jung đều không viếng thăm lăng khi họ đến thăm VN vào năm 1996 và 1998. Vấn đề phức tạp hồi đó là việc Lee ký một đề xuất lập pháp về việc cải thiện sự chăm sóc đối với cựu chiến binh HQ tham chiến ở VN. Đề xuất này có một câu khiến chính quyền VN phản đối kịch liệt: “các cựu chiến binh tận tụy của CTVN là những người đóng góp vào việc bảo vệ hòa bình thế giới.”

Chính quyền HQ đã nhượng bộ trước sức ép của VN và hứa hẹn “theo đuổi một lộ trình loại bỏ mọi sự biểu đạt mang tính tiêu cực về ngoại giao đối với cả hai bên.” Bị buộc phải đánh đu giữa những người ủng hộ bảo thủ bằng cách “trở nên cực kỳ lịch sự khi đề cập tới quá khứ [quốc gia] của chúng ta” và “khiêm nhường” tìm kiếm các quan hệ kinh tế quan trọng với VN “cho tương lai”, Lee đã phải trải qua những cạm bẫy của nhận thức của HQ về CTVN86.

VN (nhờ mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với HQ và vị thế một nhà nước cộng sản) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý người tị nạn Bắc Triều Tiên. HQ tổ chức một số nhà an toàn ở VN cho người tị nạn Bắc Triều Tiên và con đường tới VN không nguy hiểm như các đường thoát khác87. Vào năm 2004, VN đã gánh chịu sự tức giận của Bắc Triều Tiên khi cho phép 468 người tị nạn được di tản bằng đường hàng không khỏi VN và bay tới HQ88. Hay nói cách khác, VN đóng vai trò người trung gian trong mối quan hệ giữa Bắc Triều Tiên và HQ.

Vai trò của cựu chiến binh tham chiến ở VN trong mối quan hệ mới giữa VN và HQ là gì? Hầu như không, có lẽ vậy. Họ bị loại hoàn toàn khỏi bối cảnh. Sau khi bị lảng tránh suốt hai thập kỷ, vào năm 1992, việc nhiều cựu chiến binh chịu ảnh hưởng của chất độc màu da cam và các chất khai quang khác đã được sử dụng ở VN được công khai89. Một số hội cựu chiến binh đấu tranh để hội chứng được công nhận và các cựu chiến binh được bồi thường90. Trong khi sự đấu tranh vẫn tiếp diễn, các hội cựu chiến binh tham chiến ở VN chủ yếu hoạt động trên web, có ít hoạt động trong các lĩnh vực khác. Duy trì các website chìm đắm trong hoài niệm về một VN đã biến mất bốn thập kỷ trước, các hội cựu chiến binh muốn thông qua các website và thành viên của họ lưu giữ ký ức về CTVN: những sự hi sinh đã xảy ra và những điều kinh hoàng đã trải qua91

Đây là một ngoại lệ đối với hầu hết sự lãng quên đối với sự tham chiến của HQ trong CTVN. Ngay giữa sự bùng nổ của VN vào năm 1999, tuần báo cánh tả Hangyŏre 21 phát động sáng kiến bù đắp thiệt hại mà quân đội HQ gây ra cho VN92. “Hãy cầu xin để lịch sử đáng buồn của chúng ta có thể được tha thứ” – một sáng kiến nhằm gây quỹ cho nhiều mục tiêu: xây dựng bệnh viện ở VN; đưa các nhà báo tới thăm các địa điểm thảm sát thường dân để phục vụ cho mục đích nghiên cứu; thực hiện các cuộc phỏng vấn với người VN sống sót trong các vụ thảm sát cũng như các cựu chiến binh HQ sẵn sàng nói về phía họ trong các vụ thảm sát93. Sáng kiến đã nhanh chóng thu được sự ủng hộ của phụ nữ HQ, những người đã bị buộc phải làm phụ nữ giải trí phục vụ lính Nhật Bản trong Thế Chiến thứ II94. Nhanh chóng nổi tiếng (kích động), sáng kiến đã giúp cho ba NGO về bồi thường cho VN dưới dạng viện trợ nhân đạo được thành lập. Đồng thời nó cũng khiến cho các cựu chiến binh tham chiến ở VN tức giận, họ cảm thấy bị phản bội khi Hangyŏre 21 phủ nhận sự biện minh đạo đức của họ. Họ tổ chức biểu tình và thậm chí tấn công và chiếm đóng các cơ sở của nhóm Hangyŏre, tấn công một số nhân viên của nhóm với gậy sắt95. Sau nhiều năm, có một số người lên tiếng thúc giục việc xem xét lại vai trò của HQ trong chiến tranh VN, nhưng những người này bị cô lập, không bao giờ đạt được mức độ thừa nhận (hoặc là sự sỉ nhục đối với một số người) giống như sáng kiến Hangyŏre 21. Bất chấp quy mô và hoạt động kéo dài cả năm (với hàng trăm bài báo về các vụ thảm sát ở VN được công bố), sáng kiến đã không thành công trong việc xâm nhập vào ý thức phổ thông của người HQ.

Điều này là rõ ràng dựa trên sự thực là dân chúng HQ đã không thay đổi một cách đáng kể nhận thức của họ về VN sau khi sáng kiến kết thúc vào năm 2001: các sản phẩm từ văn hóa đại chúng (điện ảnh, phim truyền hình, tiểu thuyết, vân vân…) vẫn tiếp tục lảng tránh đề cập về CTVN và sự tham gia của HQ.

Kết luận

Trong khi lợi nhuận thu được từ chiến tranh VN là quan trọng đối với sự phát triển kinh tế thần tốc của HQ vào những năm 1970, sức mạnh của “chính trị đau khổ” ở HQ khiến cho HQ tham gia vào CTVN đã được công thức hóa thành khái niệm sự đau khổ của HQ, với một số ngoại lệ nhỏ. Lập luận này khẳng định rằng HQ cũng chịu đau khổ từ chiến tranh như VN, một khẳng định mà sự thật đã không và không thể đo lường. Lập luận này còn khai thác hình ảnh phản chiếu của lịch sử VN trong phạm vi tường thuật về sự phát triển kinh tế của HQ theo hướng có lợi cho lập luận của HQ về đặc trưng và lịch sử. Chính trị đau khổ giờ đây thuộc về phạm vi công một cách chắc chắn, đã được sự kiểm duyệt của chính quyền đối với các nghiên cứu liên quan đến CTVN nuôi dưỡng trong nhiều năm. Sự đau khổ thực sự của lính HQ ở VN cũng như người lao động HQ đã đóng góp vào sự thần kỳ của Hàn đã bị bỏ qua trong lập luận này. Một ít tiểu thuyết viết về CTVN của cựu chiến binh tham chiến ở VN chỉ củng cố thêm hình ảnh cho thấy sự tham chiến của HQ là sự bắt buộc, trách nhiệm của HQ biến mất (Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm) và người Hàn cũng chịu sự đau khổ lớn lao như người VN.

Sử học chuyên nghiệp hầu như tuân theo một cách không phê phán quan điểm phổ thông về CTVN tới mức mà lịch sử của VN do một nhà sử học chuyên nghiệp xuất bản ở HQ hoàn toàn bỏ sót việc tham chiến của quân đội HQ trong CTVN. Việc các nhà sử học chuyên nghiệp (cho đến rất gần đây) không tham gia vào cái mà một nhà sử học HQ coi là “sự kiện quốc tế có ảnh hưởng lớn nhất mà HQ từng đối mặt ngoài Chiến Tranh Triều Tiên”96, đã khiến cho hai huyền thoại quốc gia và lịch sử phổ thông không bị thách thức: huyền thoại về việc điều thần kỳ ở Hàn hoàn toàn là sản phẩm tự thân thay vì được CTVN tài trợ và huyền thoại về việc HQ chưa bao giờ xâm lược một quốc gia khác. Những huyền thoại này – vốn trên thực tế là những huyền thoại căn bản hay huyền thoại chính trị căn bản – tối quan trọng trong việc duy trì sự tự nhận thức và đặc trưng quốc gia của HQ. Việc xem xét lại tầm quan trọng của CTVN trong lịch sử và xã hội HQ sẽ không thể tránh khỏi sự liên quan đến việc xem xét lại đặc trưng quốc gia của HQ đương đại.

Theo nhiều cách, CTVN là một lĩnh vực không điển hình của nghiên cứu lịch sử. Các tranh luận về đạo đức thường xuyên bao quanh các chủ đề gây tranh cãi khác trong sử học HQ đều bị chính trị đau khổ loại bỏ và dường như không có mấy hội thoại hay đối thoại giữa lĩnh vực nhận thức phổ thông và nghiên cứu chuyên nghiệp. Trái lại, hầu hết các trường hợp nghiên cứu chuyên nghiệp đều nhắc lại các nội dung của nhận thức phổ thông. Một ví dụ mâu thuẫn do tạp chí Hangyŏre (cũng do nhà xuất bản ủng hộ sáng kiến chuộc lỗi Hangyŏre 21 phát hành) cung cấp. Vào cùng một ngày, bài báo dài và đầy phẫn nộ về vụ thảm sát thường dân do quân đội Hoa Kỳ gây ra ở Nogŭn-ri vào năm 1950 và Hoa Kỳ không xin lỗi chiếm ngay trang nhất, trang ba đăng tải nổi bật một cuộc phỏng vấn Ch’ae Myŏngshin, cựu tổng tư lệnh của quân đội HQ ở VN, trong đó Ch’ae biện minh trước những lời cáo buộc của VN về việc lính của ông ta thảm sát thường dân VN. Theo Ch’ae, lính HQ không đáng bị lên án, do họ không thể phân biệt được giữa du kích Việt Cộng và thường dân VN. Nực cười thay, đó cũng chính là lập luận mà bính lính Hoa Kỳ dùng để biện minh cho vụ thảm sát Nogŭn-ri.

Cần phải khẳng định rõ ràng rằng sự đối xử đối với CTVN trong lịch sử hiện đại của HQ không phải là không có sự tương tự. Nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có quá khứ thuộc địa, cũng cung cấp những ví dụ tương tự trong lịch sử quốc gia của họ. Ví dụ gần gũi là quá khứ thực dân của Hà Lan không bao giờ được nhận thức phổ thông của người Hà Lan thừa nhận (và cũng gần như không được các nhà sử học chuyên nghiệp thừa nhận). Bằng cách thể hiện sự đau khổ của người Hàn trong Chiến Tranh Triều Tiên và binh lính HQ trong và sau CTVN, phần VN đã bị đẩy ra khỏi câu chuyện, việc người Hà Lan đau khổ trong những trại tử thần của Nhật Bản thời Thế Chiến II97 đã khiến cho việc đối mặt với hậu quả của chính sách thực dân (bóc lột, lạm dụng, thảm sát) kéo dài 350 năm ở Indonesia98 hoàn toàn là bất khả thi. Sự đau khổ của cựu chiến binh Hà Lan trong cái vẫn được nói trại là “hoạt động cảnh sát của Hà Lan” (hiện giờ được coi là các cuộc tấn công do cựu thực dân chủ mưu để đàn áp cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia) cũng góp phần ngăn cản tiếng nói của Indonesia  trong cuộc tranh luận phổ thông của Hà Lan99. Cũng giống như đồng sự HQ, binh lính Hà Lan đã trải qua một cuộc chiến tranh dài tại quốc nội trước khi được gửi tới vùng nhiệt đới. Sự đau khổ của họ (ngẫu nhiên là rất thực), cả trong và sau cuộc chiến độc lập, vẫn tiếp tục cản trở quan điểm tự do hơn của lịch sử thuộc địa, lợi ích của bản thân nó không thể hiện như là chủ nghĩa vị tha. Chính trị đau khổ, việc khai thác sự đau khổ của con người cho mục tiêu chính trị, không có quốc tịch. Câu chuyện này có thể tìm thấy ở bất cứ đâu, trong hàng sa số các phiên bản, hình dạng và hiện tượng, hằng số duy nhất là sự đau khổ của con người và sự thao túng nó.    

Sự thịnh hành của chính trị đau khổ trong hồi ức về CTVN (được sự kiểm duyệt của chính quyền hỗ trợ) đã tạo ra hình ảnh xuyên tạc về VN, trong đó VN chỉ được nhớ tới như là nơi dễ kiếm lợi nhuận và phiêu lưu cũng như là nơi thể hiện sự ưu việt của người Hàn. Sự bùng nổ của VN vào những năm 1990 xác nhận khái niệm này đã đến hồi kết thúc, do HQ trở thành nhà đầu tư lớn nhất vào VN. Điện ảnh về VN của HQ phản ánh thái độ này một cách trung thành. Cũng giống như các tác phẩm phổ biến về VN, nhìn chung chúng mang tính chất thực dân, phương đông hóa và kỳ thú. Người VN được mô tả (nếu như họ được mô tả) giống như người Đông Nam Á điển hình, dễ dàng hài lòng và vui lòng tha thứ, sự kỳ thú phong phú, nhiệt đới và huyền bí bao quanh họ. Trong đó, những bộ phim trình bày một sự tương đồng với các bộ phim kỳ thú dựa trên bối cảnh thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới. Ban đầu tôi đã dẫn chứng tác phẩm của Hwang Sok-yong cho thấy trong tưởng tượng của ông thì sự khác biệt giữa thế hệ cha của ông, phải phục vụ cho Quân Đội Đế Quốc Nhật Bản, và thế hệ của ông, phải phục vụ và chết ở VN cho Hoa Kỳ, không lớn. Tác giả có thể mở rộng sự so sánh này bằng cách lưu ý rằng Manchuria trong trí tưởng tượng thực dân của Triều Tiên dưới thời Nhật Bản cai trị Triều Tiên là nơi tìm kiếm lợi nhuận, phiêu lưu và tiềm năng, cũng có thể chuyển sang cho VN vào những năm 1990. Trong khi Manchuria là thuộc địa của thuộc địa (ít nhất là trong trí tưởng tượng của công chúng) dưới thời thực dân Nhật Bản, VN trở thành thuộc địa của thuộc địa dưới thời phụ thuộc vào Hoa Kỳ vào cuối những năm 1960 và 1970100. Cả hai đều sinh ra các tường thuật về sự chinh phục (tình dục hoặc chủ đề khác), lợi nhuận và sự hứa hẹn về cuộc phiêu lưu kỳ thú. Chiến tranh, nếu như được đề cập, chỉ là một hồi ức bị quên lãng, một thân xác nằm trong nấm mộ không dấu vết. Nhưng cùng với thời gian, mùi hôi thối của nó bốc lên.

Chú thích:

Phần này tôi không dịch để rút gọn bài, xin hãy xem bản gốc tiếng Anh được dẫn link ở tiêu đề.