Gadget

This content is not yet available over encrypted connections.

Friday, November 27, 2015

Mô hình kibbutz của Israel sụp đổ từ những năm 80 của thế kỷ trước

Hiện nay ở Việt Nam người ta có khuynh hướng ca tụng mô hình kibbutz của Israel là mô hình của chủ nghĩa cộng sản với những ưu điểm đáng mơ ước. Mặc dù vậy, mô hình kibbutz thường xuyên bị khủng hoảng và phải được chính quyền Israel cứu trợ. Sau một trăm năm tồn tại mô hình kibbutz đã hoàn toàn thay đổi, vào năm 2010 tờ Haaretz của Israel đã đưa tin như sau:  
Chỉ một phần tư số kibbutz là vẫn tiếp tục hoạt động như là hợp tác xã bình đẳng, trong khi phần còn lại đã bắt đầu trả lương cho các thành viên, một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Về Kibbutz và Hợp Tác Xã của Đại học Haifa đã cho thấy điều đó. Ngay cả Deganya Aleph, kibbutz đầu tiên của Israel hiện giờ cũng hoạt động theo mô hình tư nhân hóa.
Một khảo sát khác trong năm nay đã cho thấy 70% số thành viên của kibbutz nhận lương tháng ít hơn 7.000 NIS, trong khi 11% nhận lương cao hơn 12.000 NIS. 188 kibbutz (72%) đang được vận hành theo mô hình tư nhân hóa “kibbutz mới”, tức là có các mức lương khác nhau cho các thành viên; 65 kibbutz (25%) do cộng đồng điều hành; 9 kibbutz (3%) được điều hành theo kiểu “tích hợp”. 
  
Đây là điều hiếm được nhắc đến ở Việt Nam, do ở Việt Nam người ta chỉ biết đến  mô hình kibbutz cộng đồng kiểu cũ và không biết gì về khủng hoảng cũng như sự thay đổi của mô hình kibbutz từ những năm 80 của thế kỷ trước.

Cuộc khủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của mô hình kibbutz là vào năm 1985, từ đó đến nay mô hình kibbutz có vẻ như không hồi phục được nữa và bắt đầu đi vào con đường tư bản hóa (tức là thuê lao động). Để hiểu thêm về quá trình sụp đổ của kibbutz xin mời bạn đọc theo dõi bản dịch chương 6 "Sự sụp đổ năm 1985" trong cuốn sách "The Kibbutz: Awakening From Utopia" (Kibbutz: Thức Dậy Từ Sự Không Tưởng) của Daniel Gavron do nhà xuất bản Rowman&Littlefield phát hành năm 2000. 

Sự sụp đổ năm 1985

Khi Aharon Yadlin, cựu bộ trưởng giáo dục, được kibbutz Hatzerim giải phóng vào tháng 6 năm 1985 để tái hội nhập vào đời sống công cộng trong vai trò tổng thư ký của Liên Minh Kibbutz Thống Nhất (UKM), những người tiền nhiệm cho ông biết rằng đang nắm giữ doanh nghiệp mạnh nhất của nhà nước Israel. UKM là liên minh của kibbutz Meuhab và Ihud, được thành lập vào năm 1980. Với 167 khu định cư, đại diện cho 2/3 số kibbutz của quốc gia. Họ đảm bảo với ông đây là công việc lớn hơn, tốt hơn và ổn định hơn bất cứ công việc nào khác, kể cả so với các ngân hàng.

Mười ngày sau, những người quản lý ngân khố của Liên Minh đến chỗ ông trong hoảng loạn, thốt ra những lời định mệnh “Balas không thể trả lại tiền của chúng ta.” Họ nói tới David Balas, một cố vấn đầu tư, “Quỹ UKM” đã ủy thác cho người này 100 triệu dollar. Đó là thời kỳ lạm phát bùng nổ và những người phụ trách tài chính của UKM cảm thấy có nghĩa vụ phải đảm bảo an toàn cho các quỹ của họ khỏi sự tổn thất giá trị, nhưng họ đã đi quá xa. Một mặt, đó là chuyện bảo vệ tiền trước lạm phát. Mặt khác đó là chuyện tìm kiếm các lợi nhuận phi lý ở những kẻ hở của pháp luật, trong những cái được gọi là “thị trường xám”. Ban đầu các khoản đầu tư chỉ ở quy mô nhỏ, nhưng sau đó khi thu nhập kỳ vọng quay về, quy mô đầu tư được gia tăng. 

Người tiền nhiệm Eli Zamir của ông ở Maagan Michael (một kibbutz liên quan tới Hatzerim mà chúng ta sẽ đề cập tới trong bài này) hồi tưởng lại rất khác.

“Có thể là mười ngày trước khi Aharon biết về Balas,” ông nói.

“Mọi thứ kéo dài sáu tháng và chúng tôi đã kêu đến cảnh sát. Đằng nào cũng vậy, chúng tôi thực tế đã thu hồi được 80% số tiền ủy thác cho Balas.”

Rất đáng phải hỏi rằng tại sao UKM vay một số tiền lớn như vậy. Zamir giải thích rằng vấn đề này liên quan đến việc phe Likud cánh hữu lên nắm quyền vào năm 1977. Sự tiến triển đó là đỉnh điểm trong sự thay đổi đáng chú ý của giá trị và ưu tiên quốc gia, ông tin rằng, mặc dù vậy các lãnh đạo của kibbutz đã không nhận ra vào lúc đó. Họ cho rằng chiến thắng trong bầu cử của Likud là một sự ngẫu nhiên lịch sử và sẽ không kéo dài. Cùng lúc đó, các kibbutz đã lớn lên và phát triển, vì vậy họ cần đến tiền. Quỹ phát triển của UKM đã bắt đầu vay tiền trên quy mô ngoài dự tính. Mặc dù tiền thường được chuyển cho các kibbutz cũng như các hợp tác xã và nhà máy của kibbutz địa phương, đôi khi các khoản vay cũng được đảm bảo, nhưng sự đầu tư thực sự vẫn chưa được cần đến.

Zamir cho biết về việc UKM không biết cách bảo vệ tiền trước lạm phát. Không có ngân hàng nào hữu ích, ngay cả ngân hàng Hapoalim (ngân hàng Công Nhân, lúc đó thuộc về Liên Đoàn Lao Động Histadrut) cũng chỉ cung cấp các biện đảm bảo tiền chống lại lạm phát nhưng không chống lại sự mất giá. Các lãnh đạo UKM viện tới Balas trong sự tuyệt vọng, hy vọng rằng ông ta sẽ là cứu cánh của họ trong cả việc chống lại lạm phát cũng như chống mất giá tiền.

Chỉ hai năm trước khi Liên Minh Kibbutz mất tiền vì khờ dại và đầu cơ vô đạo đức, một số kibbutz và các thiết chế tài chính của họ đã tổn thất lớn khi cổ phiếu tại các ngân hàng chủ chốt của Israel, vốn bị thổi giá, bị mất giá mạnh. Vào lúc đó, chính quyền đã giải cứu họ, cũng như đã cứu thoát hàng ngàn cá nhân người Israel, bằng cách nắm quyền sở hữu các ngân hàng đang gặp rắc rối. 

Vào lúc ấy thì không có nhiều thất bại trong đầu tư bị lên án nhưng sự thật là các kibbutz đều đã đầu tư trên thị trường chứng khoán. Nguyên nhân bổ sung cho sự quan ngại này là những người quản lý tiền của kibbutz đã tiến hành đầu tư mà không được ủy quyền thích hợp. Giờ đây, với “vụ Balas”, rõ ràng là các viên chức tài chính đã không học được gì mà vẫn tiếp tục hoạt động đáng ngờ của họ.

Mặc dù nhiều thành viên kibbutz bị sốc khi họ biết điều gì xảy ra, vụ Balas và tổn thất cổ phiếu ngân hàng chỉ là phần nổi của tảng băng. Nếu chỉ có tiền tổn thất trong đầu tư thì điều đó có thể xử lý tương đối dễ dàng. Tuy vậy, sự mạo hiểm đó là triệu chứng của thứ gì đó nghiêm trọng hơn: Liên Minh Kibbutz - Kibbutz Artzi cũng như UKM và nhiều kibbutz đơn lẻ khác – đã vay tiền trên quy mô lớn mà không có gì đảm bảo là họ có thể trả lại. 

Ban đầu các khoản vay của kibbutz và sự hợp tác của họ như quỹ UKM không kết nối với nhau và khi tỷ lệ lạm phát gia tăng thì họ dễ dàng trả lại chúng. Mặc dù vậy, thói quen đã trở thành sự nghiện ngập và khi ngay cả các khoản vay gắn với chi phí sinh hoạt thì các kibbutz, quỹ của họ, các nhà máy địa phương và hợp tác xã bắt cũng vay mượn. Không có sai lầm nghiêm trọng trong chuyện vay mượn, nếu họ đầu tư vào các chi nhánh nông nghiệp mới, đó sẽ là hành vi hoàn toàn chấp nhận được. Không may mắn là đa số tiền được đầu tư vào các biện pháp để cải thiện mức sống của các thành viên kibbutz. Vào những năm 1970, nhiều kibbutz đã mang con cái về nhà ngủ, một phần lớn số tiền vay mượn được chi ra để mở rộng các căn hộ cá nhân nhằm đáp ứng sự thay đổi này. Các khoản chi tiêu khác là nhà ăn, bể bơi, phòng tập thể thao, nhà hát, sân bóng đá và thư viện.

Vào đầu những năm 1980, lạm phát ở Israel vượt qua mức 400% và có nguy cơ tăng cao hơn. Vào năm 1985, chính quyền giải quyết lạm phát bằng các biện pháp quyết liệt và đưa nó vào tầm kiểm soát. Điều này đạt được bằng cách áp dụng một lần việc giảm giá 15% đồng tiền của Israel và cố định tiền lương cũng như giá cả, trong khi thả nổi lãi suất rất cao. Mặc dù chiến thuật có hiệu quả và tỷ lệ lạm phát giảm nhanh nhưng hàng trăm doanh nghiệp đã phá sản.

Phản ứng đầu tiên của Liên Minh Kibbutz chứa đựng sai lầm cơ bản: Họ yêu cầu ngân hàng giãn nợ. Yêu cầu này sẽ có ý nghĩa nếu như họ có phương tiện để trả nợ trong thời gian dài hơn, nhưng đa phần là họ không có những phương tiện đó. Hơn nữa, khi lãi suất tăng vọt, khoản nợ của kibbutz cộng đồng nhanh chóng tăng lên 5 và 6 tỷ dollar. Họ không có cách nào trả nợ.

Không chỉ có kibbutz trong tình trạng này. Các làng hợp tác xã moshav và nông dân cá thể cũng đối mặt với vấn đề tương tự, cùng với hàng trăm doanh nghiệp nhỏ khắp đất nước, nhưng kibbutz đặc biệt dễ tổn thương, khi họ lạm dụng vốn và không có tài sản thế chấp. Toàn bộ các doanh nghiệp kibbutz đều dựa trên tín dụng. Nhiều doanh nghiệp tư nhân có thể thoát khỏi khủng hoảng do việc đóng băng tiền lương là biện pháp cắt giảm chi tiêu hiệu quả, nhưng kibbutz không trả lương theo nghĩa thông thường. Sự mất giá của tiền đã gia tăng chi phí sinh hoạt của các thành viên, có nghĩa là mức sống của nhiều kibbutz đã giảm mạnh.

Liên Minh Kibbutz có hai thứ thuận lợi: chính quyền không muốn sự sụp đổ hàng loạt của các kibbutz (hay moshavim và các nông dân cá thể), ngân hàng không thu được gì khi tịch biên các tài sản không sinh lợi. Ngân hàng sẽ làm gì với việc thu hoạch sữa thua lỗ, một nhà ăn đang xây dở, hay một nhà máy đang gặp khó khăn? Hơn nữa, ngân hàng cũng có trách nhiệm về những gì đã xảy ra. Nếu như các kibbutz đã hành động cực kỳ ngu ngốc thì sự ngu ngốc đó đã được ngân hàng dung túng. Các kibbutz không trả nợ; ngân hàng đã tiếp tục gia hạn cho họ. Do vậy, con đường duy nhất để thoát khỏi sự điên rồ này là thỏa thuận ba bên giữa chính quyền, ngân hàng và kibbutz.

Tiến sĩ Shimon Ravid, hiện nay là giám đốc điều hành hỗn hợp của ngân hàng Hapoalim, ngân hàng lớn nhất của Israel, từng là giám đốc tài chính của Cục Do Thái, chịu trách nhiệm về định cư nông nghiệp ở Israel, khi quy mô của cuộc khủng hoảng kibbutz (cũng như các khu định cư khác) trở nên rõ rệt. Shimon Peres là thủ tướng của Israel, lãnh đạo của chính quyền thống nhất quốc gia, đã áp đặt gói giải pháp kinh tế chống lạm phát, ông ta bổ nhiệm Ravid làm cố vấn đặc biệt về chương trình khôi phục lĩnh vực nông nghiệp.

Vào năm 1986, cuộc khủng hoảng vẫn còn trong trứng nước và chỉ có các hợp tác xã moshav và 36 kibbutz đối mặt với nợ nần không thể thanh toán.

Ravid đưa ra một gói giải pháp kết hợp giữa xóa nợ có cân nhắc và giãn nợ. Theo các điều khoản của “Kế Hoạch Ravid”, chính quyền sẽ cung cấp cho ngân hàng khoản tín dụng cần thiết nhưng không bao hàm một nghĩa vụ tài chính trực tiếp. Vào lúc mà Ravid trình bày đề xuất, một cuộc bầu cử đã diễn ra, Yizhak Shamir của đảng Likud cánh hữu trở thành thủ tướng, nhưng ông ta và bộ trưởng bộ tài chính vẫn ủng hộ kế hoạch. Không may mắn cho các kibbutz là một số lượng lớn đảng viên của Likud thì không. 

Mặc dù chính quyền, ngân hàng và kibbutz cũng như moshav đồng ý với gói giải pháp, một nhóm thành viên Likud của Knesset, quốc hội Israel, đã bác bỏ Kế Hoạch Ravid tại Ủy Ban Tài Chính của Knesset. Bất chấp sự chấp thuận của chính phủ, một số thành viên ủy ban đã nói thẳng với Ravid rằng họ không quan tâm tới việc bảo lãnh cho các khu định cư, họ vốn coi đó là một phần thiết chế của đảng Lao Động. Do vậy, Kế Hoạch Ravid trở thành dĩ vãng, một kế hoạch giải cứu tham vọng hơn vào ba năm sau được đặt ra. Ravid vẫn tiếp tục thuyết phục mọi người rằng kế hoạch của ông ta sẽ có hiệu quả và chi phí vào lúc đó sẽ là tương đối thấp. Ông khẳng định rằng kế hoạch đã bị bác bỏ vì những lý do chính trị nhỏ bé. Khi kế hoạch giải cứu được triển khai, nó khiến đất nước tiêu tốn rất nhiều tiền. 

Tiến sĩ Ariel Halperin, người chịu trách nhiệm chính về kế hoạch khôi phục, Thỏa Thuận Kibbutz 1989, có quan điểm triết lý hơn. Cần phải ghi nhận rằng Thỏa Thuận đã được bổ sung hai lần – vào năm 1996 và năm 1999 – ông cho rằng cuộc khủng hoảng lớn và phức tạp lớn tới mức chính quyền, ngân hàng và kibbutz cần thời gian để hiểu rõ các khuynh hướng của nó. Theo ý kiến của ông ta, đó là vấn đề phải giải quyết theo nhiều bước.

Trong khi đó vấn đề nợ nần của moshav được giải quyết bằng lập pháp, nhưng nợ của kibbutz thì vừa lớn hơn lại vừa phức tạp hơn. Vấn đề này được giải quyết (như Ravid trước đây đã đề xuất) bằng thỏa thuận tự nguyện giữa chính quyền, ngân hàng và các kibbutz. Tuy vậy, cho đến lúc đó vấn đề vẫn quá phức tạp để xử lý. Nợ tập thể đã gia tăng mạnh và nhiều kibbutz bị ảnh hưởng.

Một ủy ban thỏa thuận kibbutz độc lập được chính quyền, ngân hàng và kibbutz thiết lập để giám sát thỏa thuận, được một doanh nghiệp phi lợi nhuận hỗ trợ, với một nhóm các nhà kinh tế, kế toán và luật sư. Đó là nhóm đã tạo ra Thỏa Thuận Kibbutz năm 1989, hiện giờ tất cả các kibbutz của quốc gia đều tham gia – không chỉ 36 kibbutz trước kia. Thỏa Thuận Kibbutz là một khuôn khổ cho hàng trăm thỏa thuận khác. Ủy ban chịu trách nhiệm về các đầu vào kinh tế, nhiều giao dịch tài chính cũng như các chương trình khôi phục riêng lẻ của các kibbutz khác nhau. Ủy ban cũng đóng vai trò là trọng tài khi mâu thuẫn xuất hiện giữa ba bên. 

Cả Ravid và Halperin đều nhấn mạnh rằng sự phức tạp của vấn đề là kết quả của hệ thống đảm bảo qua lại không được định trước, hệ thống chi phối các hoạt động kinh tế của kibbutz. Hệ thống bắt nguồn từ những năm 1920 và 1930, khi kinh tế Do Thái được xây dựng chủ yếu bởi phong trào lao động ở Palestine.

Vào năm 1920, Liên đoàn Lao động Do Thái Histadrut được các nhóm và đảng lao động tồn tại hồi đó thành lập, bao gồm cả các đại diện của kibbutz, để thiết lập một “Cộng Đồng Công Nhân Do Thái” ở Palestine. Ban đầu nó là một tổ chức điều phối của các hội đồng công nhân và công đoàn, sau đó nhanh chóng vươn ra với phong trào thanh niên, câu lạc bộ thể thao, chi nhánh tiếp nhận người nhập cư và trao đổi lao động. Trước khi Histadrut tham gia vào an sinh xã hội rất lâu, họ đã có quỹ ốm đau Kupat Holim, do các công nhân nông nghiệp thành lập, cũng như các quỹ hưu trí, thất nghiệp, tàn tật, góa bụa và mồ côi.

Tại đại hội thứ hai vào năm 1923, Histadrut thiết lập Hevrat Ovdim (Doanh Nghiệp Công Nhân) để tổ chức các hoạt động kinh tế của cộng đồng công nhân dựa trên sự hỗ trợ qua lại và trách nhiệm. Mọi thành viên của Histadrut cũng là thành viên của Hevrat Ovdim, sở hữu toàn bộ các thể chế hợp tác và tài chính của Histadrut.

Trong số các doanh nghiệp của Histadrut có ngân hàng Hapoalim (Ngân Hàng Công Nhân); công ty xây dựng Solely Boneh, thành lập Koor Industries cho các nhà máy của họ; công ty nhà ở Shikun Ovdim; công ty bảo hiểm Sneh; hiệp hội marketing Tnuva; hợp tác xã mua sắm Hamashbir. Vận tải công cộng được các hợp tác xã xe bus Dan, Egged và Mekasher đảm nhiệm.

Tất cả các công nhân nông nghiệp tham gia công đoàn, bao gồm cả các thành viên kibbutz, là thành viên của chi nhánh Hevrat Ovdim, Nir Shitufi, vốn hướng tới mục đích khuyến khích nông nghiệp hợp tác, hiện đại hóa nông nghiệp, đào tạo công nhân mới cũng như mở rộng hỗ trợ tài chính cho nông dân. Trong quá trình phát triển, Nir Shituri trở thành công ty mẹ, đại diện cho kibbutz và moshavim trong việc cho thuê đất và vay nợ, tránh các thỏa thuận đơn lẻ. Trong nhiều năm, Histadrut và các doanh nghiệp của nó đã trở thành sức mạnh kinh tế thống trị ở nhà nước Do Thái đang trỗi dậy. 

Tuy vậy, những cánh tay tài chính của phong trào Zionist – Cục Do Thái cho Palestine, Quỹ Quốc Gia Do Thái, Quỹ Foundation – không phải là một phần của Histadrut, chúng hợp tác với nhau và dần dần được điều hành bởi cùng một đội ngũ nhân sự. Tổng thư ký của Histadrut, David Ben-Gurion, từng được bầu làm chủ tịch của Cục Do Thái và trở thành thủ tướng đầu tiên của Israel. Do vậy, Cục Do Thái và Histadrut là những phôi thai gắn kết chặt chẽ với nhau, mà từ đó nhà nước sinh ra, mặc dù chúng tiếp tục tồn tại sau khi nhà nước được thiết lập. Do vậy, liên minh do đảng Lao Động Mapai của Ben-Gurion lãnh đạo đã điều hành Israel trong suốt ba thập kỷ đầu tiên.

Đất nước Israel bị một nền kinh tế lao động thống trị, với khuynh hướng hợp tác xã mạnh mẽ. Mặc dù các kibbutz luôn chỉ là thiểu số trong xã hội, hầu hết chỉ chiếm 3% dân số, song chúng hoạt động trong môi trường cực kỳ thuận lợi. Vì lý do đó chúng đã thịnh vượng; vì lý do đó chúng được hỗ trợ bất cứ khi nào có vấn đề xuất hiện; vì lý do đó mà cuộc bầu cử năm 1977 là một cú sốc đối với Liên Minh Kibbutz. 

Cũng phải nói một cách công bằng rằng năm 1977 đã trở thành đỉnh cao của một quá trình trong xã hội Israel, xác nhận sự thay đổi các quan niệm và giá trị về kinh tế và xã hội của Israel. Quá trình này được đảng Lao Động khởi đầu vào những năm 1960, khi họ thúc đẩy công nghiệp hóa và khuyến khích đầu tư tư nhân. Khi đảng Lao Động quay lại nắm quyền sau đó, bất kể là dưới dạng liên minh thống nhất quốc gia hay tự bản thân họ, họ là đảng theo đuổi “thị trường tự do” và chỉ sẵn sàng hỗ trợ kibbutz hơn đảng Likud. Từ lâu, hợp tác xã không còn là điều tốt đẹp. Kibbutz không thể kêu gọi tình cảm từ lý tưởng và Ủy Ban Thỏa Thuận Kibbutz xử lý cuộc khủng hoảng đúng theo khái niệm kinh doanh. 

Ưu tiên thứ nhất của ủy ban là đối đầu với hệ thống bảo lãnh qua lại, vốn không thích hợp vào những năm 1980 và theo nhiều cách bắt nguồn từ những năm 1930. Tất các các kibbutz của Liên Minh Kibbutz Thống Nhất đều là thành viên của Quỹ UKM. liên Minh Kibbutz Artzi có quỹ riêng. Bên cạnh đó còn có các doanh nghiệp kibbutz địa phương, bao gồm các nhà máy, lò mổ, nhà máy đông lạnh, doanh nghiệp chế biến thực phẩm và các kho hàng. Các doanh nghiệp địa phương và quốc gia kết nối với nhau và với từng kibbutz riêng biệt bằng một hệ thống bảo lãnh qua lại, có nghĩa là bên cạnh khoản nọ của bản thân, mọi kibbutz đều có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ tập thể khổng lồ. 

Ủy ban tìm cách chặn “con bạch tuộc” này lại, cho phép mỗi kibbutz tự xử lý vấn đề kinh tế của bản thân. Sau một thời gian, điều đó thành công, rõ ràng là thỏa thuận năm 1989 có thể không được triển khai. 130 kibbutz – hơn một nửa – đã không thể trả các khoản nợ đã được giãn. Vào năm 1996, một Thỏa Thuận Kibbutz bổ sung được đàm phán và vào năm 1999 một điều khoản bổ sung đã được thông qua.

Thỏa thuận sau này đã đặt ra vấn đề về đất đai trong thỏa thuận, khai thác thực tế là 55 kibbutz đang nắm giữ những vùng đất có giá trị ở trung tâm của đất nước. Nó cho phép sự xóa nợ cho các kibbutz nằm ở khu vực hẻo lánh, giãn nợ cho các kibbutz nằm ở khu vực trung tâm để “bán lại” một phần đất đai của họ cho chính quyền, đất đai đó sẽ dùng để bù đắp cho các ngân hàng.

Thỏa thuận về đất đai đã gây ra xung đột đáng kể ở Israel, do hầu hết các kibbutz thuê đất đai quốc gia và thỏa thuận thuê đất của họ quy định rằng nếu họ không cần đất đai cho nông nghiệp hay công nghiệp thì họ phải trả lại đất đai cho quốc gia. 

Nhiều tin tức xuất hiện trên truyền thông về việc “cướp bóc đất đai quốc gia”. Mặc dù vậy, ủy ban phủ nhận rằng đề xuất của họ là quá ưu ái đối với các kibbutz. Ủy ban đã quyết định công nhận quyền của các kibbutz, chiếm hữu đất đai trong thời hạn từ 40 đến 60 năm và đưa ra một nhượng bộ. Đáng chú ý là vấn đề có thể được đưa ra tòa án để xem xét xem việc chiếm hữu của kibbutz có được coi là trao quyền cho họ không, nhưng không có bất cứ người cáo buộc nào thử làm như vậy. Cũng cần phải chỉ ra rằng một số kibbutz và moshav – trong đó có Givat Brenner mà chúng ta đã nhắc tới – mua đất bằng tiền của họ trước khi quốc gia Israel được thành lập và sau đó đã hiến đất cho Quỹ Quốc Gia Do Thái. Số đất đai đó trở thành đất đai của nhà nước. Trong trường hợp của Givat Brenner thì dĩ nhiên là từ cướp bóc trở thành lố bịch. 

Mặc dù còn quá sớm để nói rằng cuộc khủng hoảng nợ của kibbutz đã qua đi, song chúng ta có thể nói rằng sau các thỏa thuận 1989, 1996 và 1999, nó đã được kiểm soát. Một số kibbutz vẫn tiếp tục có vấn đề tài chính nghiêm trọng, nhưng rõ ràng là chúng sẽ được xử lý cùng với thời gian. Tuy vậy, vết thương đã tàn phá lối sống kibbutz trong hơn 15 năm qua có thể không hàn gắn được. Ở nhiều kibbutz, sự tin tưởng giữa kibbutz và các thành viên riêng lẻ hầu như đã đổ vỡ. Ngay cả khi không có cuộc khủng hoảng, kibbutz chắc chắn cũng nằm trong một quá trình thay đổi, nhưng cuộc khủng hoảng đã mang tới một động lực lớn cho quá trình đó, khiến cho kibbutz mất kiểm soát và gây ra những hoài nghi chết chóc về sự sống sót của kibbutz trong vai trò một thể chế.

Ở các kibbutz và quy mô quốc gia, một cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra. Có nhiều người tin rằng kibbutz là nạn nhân của các vấn đề kinh tế của Israel. Họ lập luận rằng những chính sách khắc nghiệt được áp dụng để kìm hãm lạm phát năm 1980 đã phá vỡ các kibbutz. Có nhiều người coi cuộc khủng hoảng nợ của kibbutz là “giả tưởng” xuất phát từ sự phi điều tiết ngân hàng đối với lãi suất cao bất hợp pháp. Đây là điều không thể chứng minh được và thậm chí những sự cáo buộc đó có chút ít sự thật nào thì kibbutz phải chịu trách nhiệm về việc không nhận thức được tình hình lúc đó. Ít nhất thì họ cũng phải chịu trách nhiệm về công việc kế toán cẩu thả.

Đối với Aharon Yadlin, cựu chủ nhiệm văn phòng chính phủ và là thành viên của một kibbutz thịnh vượng, câu trả lời rất đơn giản: Người quản lý tiền của kibbutz phải bị lên án vì đã đưa đa số các kibbutz đến bờ vực sụp đổ. Mặc dù Yadlin không có ý định trở thành chuyên gia kinh tế, ông ta đã trích dẫn ví dụ về kibbutz của mình, Hatzerim, vẫn tiếp tục đầy tin tưởng vào các nguyên tắc bình đẳng, không bao giờ vay nợ, không bao giờ thuê lao động từ bên ngoài và mong đợi các thành viên làm việc chăm chỉ. Ông ta khẳng định Hartzerim là bằng chứng tích cực cho thấy hệ thống kibbutz có hiệu quả. 

Một ví dụ cực đoan khác là Israel Oz, quan chức cao cấp của bộ tài chính thời đó, người đã tham gia soạn thảo Thỏa Thuận Kibbutz theo lệnh của chính quyền. Oz coi kibbutz là “một sự hoang tưởng về kinh tế” chỉ có thể sống sót chừng nào còn được hỗ trợ. Ông ta khẳng định, ngay khi kibbutz xuất hiện trong thế giới thực thì 80 đến 90% số chúng không thể chi trả cho lối sống của chúng. Ông ta khinh rẻ những người tin tưởng như Yadlin, những người cho rằng kibbutz truyền thống có thể sống sót và thịnh vượng.

“Có bao nhiêu Hatzerim ở đây?” ông ta hỏi. “Thậm chí không đến một tá!” Hệ thống dựa trên sự phụ thuộc, Oz tuyên bố. Các thành viên của kibbutz hoàn toàn phụ thuộc vào kibbutz. Họ thậm chí không trông nom con cái. Họ không chịu trách nhiệm về đời sống hàng ngày và ra quyết định giống như mọi người khác. Mọi thứ đều được các thể chế của kibbutz làm cho họ. Mặc dù Oz thừa nhận mọi xã hội đều phải trợ cấp cho nông nghiệp song ông ta phân biệt giữa hỗ trợ một nông dân cá thể với “chi trả cho một nhà trẻ em và nhà ăn tập thể, thứ tiêu tốn một khoản tiền khủng khiếp chỉ để sưởi ấm trong mùa đông hay chạy máy điều hòa nhiệt độ vào mùa hè.”

Kibbutz là công cụ hữu hiệu để thử nghiệm, thiết lập biên giới và xây dựng một quốc gia mới, Oz nói, nhưng nó không bao giờ là lối sống khả thi trong các điều kiện bình thường. Ông ta hiện là nhà tư vấn, cố vấn cho các kibbutz về sự thay đổi lớn trong cấu trúc kinh tế của họ, về vấn đề phân bổ tài sản cho các thành viên và cấu trúc tiền lương theo nguyên lý “tặng thưởng cho nỗ lực”.

Thực tế cho thấy cả Yadlin và Oz đều quá trớn. Trong khi chỉ có rất ít kibbutz là giàu có như Hatzerim, khoảng 50 kibbutz thành công cho thấy hệ thống có hiệu quả. Cùng lúc đó, hơn hai trăm kibbutz ở nhiều cấp độ khủng hoảng khác nhau cho thấy có sai lầm nghiêm trọng. Hầu hết các thành viên kibbutz chín chắn đều thừa nhận rằng kibbutz, đã tồn tại trong một thời đại khác, phải thay đổi một cách thích hợp nếu như chúng muốn sống sót trong thế giới hiện đại. 

Chủ ngân hàng Shimon Ravid không chuẩn bị để xóa sổ kibbutz trong vai trò hệ thống tổ chức kinh tế. Ông đồng ý rằng ý tưởng ban đầu của kibbutz Hameuhad vào những năm 1920 về việc tạo ra quốc gia Do Thái mới như là một kibbutz lớn là phi thực tế, do lối sống kibbutz không phù hợp với đa số. Ông cho rằng, điều này không có nghĩa là các đơn vị thiểu số dựa trên nguyên tắc cộng đồng không thể tồn tại. Các kibbutz đã tồn tại suốt hơn một nửa thế kỷ. Đó là khu vực nông nghiệp hiệu quả nhất của Israel và cũng hoạt động hiệu quả hơn trung bình trong công nghiệp.

Theo quan điểm của Ravid, cấu trúc kibbutz rất phù hợp với công nghệ cao, nhưng các liên minh đã không may mắt khi đạt đến đỉnh cao trong “thời đại plastic” vào những năm 1960. Khi thời kỳ công nghệ cao đến vào những năm 1980, hầu hết các kibbutz không còn năng lượng và tài nguyên để chiếm lĩnh công nghệ cao nữa. Cuộc khủng hoảng của những năm 1980s khiến cho các thành viên của kibbutz không hài lòng và phá hủy những thứ cho đến nay trở thành các năng lực đáng giá đối với sự thích nghi. Ravid đồng ý rằng sự thay đổi nghiêm túc trong hệ thống sẽ rất cần thiết, nhưng nếu không có khủng hoảng kinh tế, chúng sẽ được triển khai theo một cách có trật tự hơn.

Trả lời những cáo buộc rằng kibbutz luôn được các tổ chức định cư và chính quyền hỗ trợ, Ravid ghi nhận rằng mọi quốc gia đều phải trợ cấp cho khu vực nông thôn: Hoa Kỳ chi hàng tỷ dollar trợ cấp cho nông nghiệp; Chính quyền Na-uy đổ tiền vào các khu vực miền bắc; Người Đức hỗ trợ cho các vườn nho dọc bên bờ sông Rhein, ngay cả khi chúng không bao giờ trở nên cạnh tranh. 

Ravid nói, “Câu hỏi căn bản là có phải anh muốn chỉ có các thành phố với vùng ngoại vi bị bỏ mặc, hay anh muốn duy trì một vùng nông thôn lành mạnh có thể mang lại cho chúng ta cuộc sống tốt hơn?” Nếu các kibbutz không sống sót dưới một số dạng, điều đó sẽ khiến kho bạc quốc gia tổn thất nhiều hơn trong dài hạn và toàn bộ xã hội Israel cũng sẽ phải gánh chịu thiệt hại. Ravid nói. 

Ariel Halperin đã đắm chìm trong vấn đề kể từ khi ông trở thành chủ tịch của Ủy Ban Thỏa Thuận Kibbutz vào năm 1992. Ban đầu Halperin, người được sinh ra và lớn lên trong một kibbutz, bị thuyết phục rằng với các điều chỉnh tương đối nhỏ và kế hoạch khôi phục kinh tế tinh tế, lối sống kibbutz có thể tồn tại nguyên vẹn. Sau đó ông nhận ra rằng vấn đề nghiêm trọng hơn và cần phải có những sự thay đổi căn bản. 

Halperin chỉ ra một số cách mà theo đó hầu hết các kibbutz đang suy sụp, ngay cả khi vấn đề nợ nần của họ được giải quyết. Về mặt tổng thể, kinh tế của kibbutz đang trì trệ và điều này diễn ra ngay cả trong các thời kỳ mà kinh tế Israel tăng trưởng khá nhanh. Năng suất tính theo đầu người của các thành viên kibbutz thấp hơn trung bình, dẫn đến mức sống thấp. Dân số kibbutz đã giảm theo khía cạnh tuyệt đối kể từ cuối những năm 1980, Trên hết, hệ thống việc làm đã sụp đổ.

Như chúng ta đã thấy, các kibbutz đã sử dụng công nhân bên ngoài trong nhiều năm, nhưng cho đến gần đây thực tế này mới chủ yếu giới hạn trong các nhà máy. Nguyên lý tự lao động chủ yếu được duy trì trong các dịch vụ và nhiều nhánh nông nghiệp. Mặc dù vậy, ngày nay công nhân được thuê có thể thấy ở mọi nhánh của kibbutz, họ thay thế các thành viên thích làm công việc bên ngoài. Người ngoài làm việc ở nhà trẻ em, trường mẫu giáo và trường học, nhà bếp, chuồng bò, chuồng gà, vườn cây và cánh đồng. Đáng chú ý là họ thường xuyên phục vụ như là các quản lý cấp cao trong các nhà máy của kibbutz, đôi khi nhận được phần tiền lương rất lớn. Chúng ta đã thấy ví dụ này ở Givat Brenner, với các giám đốc điều hành được thuê. 

Mặc dù những sự phát triển này có thể khiến cho những người sáng lập kibbutz bật dậy khỏi mộ song chúng không hoàn toàn là gây hại.

Một trong những ý tưởng của kibbutz mà Yehuda Harel đưa ra là làm cho kibbutz trở nên hấp dẫn hơn bằng cách cho phép cách thành viên tự do lựa chọn công việc. Việc buộc các thành viên chịu trách nhiệm về khoản thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của họ có thể gia tăng năng suất lao động, như chúng ta đã thấy trong trường hợp của Hasolelim. Nhưng Halperin cũng thấy rằng hiện nay về tổng thể thì các thành viên làm việc ở ngoài kiếm được ít hơn so với phí tổn mà kibbutz dùng để thay thế họ. Bản kết toán là âm. Các quản lý cấp cao kiếm được khoảng 100.000 dollar mỗi năm từ kibbutz mà họ làm việc; rất ít thành viên kibbutz kiếm được chừng đó tiền.

Halperin tin rằng công việc quan trọng nhất mà các kibbutz phải thực hiện là tìm ra cơ chế khôi phục sự tin cậy giữa các thành viên kibbutz và kibbutz của họ. Sự biến đổi này cần đến một sự thay đổi cấu trúc căn bản bởi vì thành viên ở kibbutz truyền thống không có gì ngoài lời hứa là kibbutz sẽ luôn luôn chăm sóc họ và gia đình. Mặt khác, mặc dù các thành viên được kỳ vọng làm việc ở nơi mà cộng đồng quyết định là họ nên làm việc, nhưng không có cách nào bắt buộc họ làm vậy. Công đồng không có quyền lực thực tế đối với thành viên hay lên án pháp lý đối với họ.

Toàn bộ hệ thống dựa trên sự tin cậy và nó hoạt động bởi vì cả hai phía giữ lời hứa. Với rất ít ngoại lệ, các thành viên thực hiện bất cứ công việc nào kibbutz giao cho họ; kibbutz chăm sóc mọi mặt trong cuộc sống của thành viên từ khi họ sinh ra cho tới khi họ xuống mộ. Kibbutz lại được các Liên Minh Kibbutz hỗ trợ, các Liên Minh Kibbutz nhận được sự hỗ trợ từ Cục Định Cư Do Thái, vốn được chính quyền Israel hỗ trợ, trong một bầu không khí xã hội nhìn chung thuận lợi.

Vì lý do này, trong những cuộc khủng hoảng kinh tế trước đây một số người luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Cuộc khủng hoảng đầu tiền vào những năm 1920. Các cuộc khủng hoảng tiếp theo vào những năm 1930, 1950 và 1960, nhưng phong trào vẫn luôn được “hệ thống” giải cứu bởi vì các khu định cư – cả kibbutz và moshav – được coi là sống còn đối với sự thành công của doanh nghiệp Zionist.

Tại sao lĩnh vực nông nghiệp trong cộng đồng Do Thái thời tiền quốc gia ở Palestine và sau đó là ở quốc gia Israel cần được giải cứu thường xuyên? Một phần của câu trả lời, như Ravid đã chỉ ra, là khu vực nông thôn ở mọi quốc gia đều phải được trợ cấp, nhưng những người khác cũng ghi nhận những thất bại nghiêm trọng trong năng suất của kibbutz. Như tiến sĩ Amir Helman đã ghi nhận, đáng ngạc nhiên là trái ngược với những gì mà các nhà kinh tế chuyên nghiệp dự đoán.

Helman sinh ra tại kibbutz Afikim ở thung lũng Jordan. Ông dạy kinh tế học và quản lý – bao gồm cả “kinh tế học thay thế” – tại trường đại học Ruppin trong 21 năm qua. Ông cũng giảng dạy tại một số trường đại học, tham gia nhiều ủy ban và thực hiện nhiều nghiên cứu ở Israel cũng như quốc tế. Ông ghi nhận rằng vào những năm 1920, các nhà kinh tế học chuyên nghiệp quả quyết rằng nếu không có các phần thưởng vật chất thông thường thì các thành viên kibbutz sẽ sản xuất ít hơn và tiêu dùng nhiều hơn người ở các doanh nghiệp tư nhân. Họ đã sai: các thành viên kibbutz siêng năng và tự nguyện – thậm chí là cạnh tranh – cho những công việc khó khăn nhất mà không có phần thưởng vật chất. Điều này là đúng, như chúng ta đã thấy, vào nững ngày đầu lý tưởng của Degania, khi những người tiên phong thấy thỏa mãn trong việc tạo ra thứ gì đó mới và phục vụ cho các thành viên theo họ, mà không cần có phần thưởng cá nhân. 

Một sự tiến triển đáng chú ý khác, trái ngược với các dự báo của chuyên gia kinh tế, quan ngại về sự đầu tư quá mức, như chúng ta đã thấy trong trường hợp của Givat Brenner, vào đầu những năm 1930. Các nhà kinh tế học cho rằng cấu trúc tập thể sẽ dẫn đến sự thiếu nỗ lực và thiếu sáng kiến. Trên thực tế, mọi thứ ngược lại: kibbutz là xã hội năng suất, trong đó đầu tư rất cao. Các quản lý của kibbutz nói chung rất có tinh thần kinh doanh, bởi vì mục tiêu tổng thể của chủ nghĩa Zion là mở rộng và tăng trưởng và bởi vì hệ thống bảo lãnh qua lại ngăn chặn mọi rủi ro thực tế. Một vấn đề khác là hệ thống quản lý luân phiên dân chủ của kibbutz, có nghĩa là giống như các chính khách hay các quan chức dân cử, họ muốn chứng tỏ bản thân càng nhanh càng tốt. Đồng thời, cấu trúc của kibbutz có nghĩa là người quản lý không phải giải trình trước ban giám đốc. Anh ta thực sự chịu trách nhiệm trước đại hội của kibbutz, nhưng đó không phải là cơ quan chuyên môn và các quản lý không phải chịu trách nhiệm cá nhân khi anh ta thất bại. Vị trí thành viên của anh ta trong kibbutz được đảm bảo, ngay cả khi sự phục vụ của anh ta đối với kibbutz là thất bại. Nếu chúng ta bổ sung thêm thực tế là mọi kibbutz đều được Liên Minh Kibbutz, Cục Do Thái và chính quyền hỗ trợ thì rõ ràng là hệ thống đã thúc đẩy doanh nghiệp đến điểm phi lý.

Cấu trúc của kibbutz có một yếu điểm nội tại, có thể tóm tắt bằng một từ: nhân đôi. Đây là sự thật khó chịu trong lời lên án của Israel Oz về việc nhà ăn tập thể, nhà trẻ em, giặt là và cửa hàng quần áo – chưa nói đến bể bơi, nhà hát và phòng tập thể thao – là hoang phí. Mặc dù nhà ăn tập thể đặc trưng cho lối sống kibbutz, nhưng nó ít có ý nghĩa khi mỗi căn nhà đều có bếp và phòng ăn, các thành viên có thể ăn thỏa thích ở nhà. Nhà trẻ em lớn một cách không cần thiết khi mà trẻ em của kibbutz ngủ ơ nhà. Cũng giống như vậy, giặt là tập thể (trừ khi nó trở thành dịch vụ thương mại) là điều xa xỉ khi mỗi căn nhà đều có máy giặt.

Bên cạnh đó, nhiều thành viên kibbutz tiếp tục tận hưởng mức sống trung lưu trong thi tham gia vào tổ chức của giai cấp lao động. Chính xác về mặt tư tưởng thì điều này không có ý nghĩa về kinh tế. Rất thường xuyên có các thành viên kibbutz sống ở mức đỉnh cao của xã hội Israel, trong khi nhận lương ở mức thấp. Hơn nữa, Helman đã chỉ ra, mức sống ở mọi kibbutz của Israel là tương đồng, bất kể sức khỏe kinh tế thực tế của kibbutz ra sao. Do đó, trong khi các kibbutz giàu có có thể tiết kiệm và đầu tư, các kibbutz nghèo ngày càng lún sâu vào nợ nần. Hệ thống kibbutz có tác dụng đối với một số này nhưng không có tác dụng đối với một số khác.

Tình hình kỳ quái này đã ngự trị cho đến những năm 1980 bởi vì chính quyền, Cục Do Thái và Liên Minh Kibbutz coi kibbutz là sự quan trọng sống còn và cung cấp sự hỗ trợ khi cần thiết, như chúng ta đã thấy. Mặc dù vậy, khi cuộc khủng hoảng năm 1985 nổ ra, hệ thống sụp đổ. Các vòng bảo vệ của chính quyền, Cục Do Thái, Liên Minh Kibbutz và kibbutz riêng lẻ đã sụp đổ đối với các thành viên kibbutz bất hạnh. Vào lúc này, chính quyền không chuẩn bị để bảo lãnh cho các khu định cư; Cục Do Thái không sẵn sàng hỗ trợ họ; Liên Minh Kibbutz từ lâu không còn nguồn lực; kibbutz riêng lẻ nhiều khi không thực hiện được lời hứa. 

Đột nhiên các thành viên của kibbutz khám phá ra rằng trên thực tế họ không có gì mặc dù họ tự coi mình là đối tác của một doanh nghiệp thịnh vượng. Họ không có bảo hiểm hưu trí, không có an sinh xã hội, không có nhà, không có bất cứ tài sản gì, không có quyền trao thừa kế - và hầu như chẳng có gì để lại. Các thành viên kibbutz, vốn cảm thấy là những người được đảm bảo nhất trên hành tinh, đột nhiên thấy mình bị bỏ rơi, trần trụi và bị xô đậy giữa một bộ tộc dã man. Sự tổn thương rất sâu sắc: mất sự tin cậy, méo mó. 

Halperin tin rằng với phương pháp đúng đắn thì tình hình có thể được giải quyết. Ông theo đuổi một sự thay đổi căn bản trong hệ thống để thay thế niềm tin của các thành viên riêng lẻ đối với kibbutz. Kibbutz phải thừa nhận về mặt pháp lý quyền của các thành viên đối với tài nguyên. Các nhà máy của kibbutz và các chi nhánh nông nghiệp phải tài trợ cho bảo hiểm y tế, hưu trí và trợ cấp xã hội của các thành viên. Họ phải trả cho việc giáo dục trẻ em. Các thành viên phải sở hữu căn nhà của họ và được trao quyền di chúc phần của họ trong tài sản của kibbutz cho người kế tục.

Mỗi kibbutz sẽ áp dụng mô hình riêng, Halperin đề xuất, nhưng sự phân bổ tài sản cho các thành viên, được đảm bảo bằng luật pháp, là nền tảng của mọi kế hoạch tái tổ chức. Câu hỏi về các khoản thanh toán khác nhau, phần thưởng cho nỗ lực, thanh toán cho làm việc thêm giờ và tư nhân hóa ngân sách đều là bổ sung. Khi niềm tin căn bản được khôi phục và các thành viên phục hồi cảm giác an toàn, phần còn lại sẽ được triển khai. 

Bất kể là Halperin đúng hay không, chỉ có thời gian mới có thể trả lời. Như chúng ta đã thấy trong những chương trước, 5 kibbutz đã nỗ lực thích nghi với tình hình mới. Sau này chúng ta sẽ tìm hiểu một nhóm định cư khác cho thấy các lựa chọn thay thế của tương lai, trong đó có các giải pháp phù hợp với những đề xuất của Halperin.

Mặc dù vậy, trước khi đi tiếp, sẽ rất hữu ích khi quay trở lại xem xét toàn bộ hệ thống giáo dục của kibbutz. Chúng ta phải xem xét cả lý do bên ngoài cũng như bên trong của sự sụp đổ kinh tế vào năm 1985. Có thể là không công bằng khi bỏ qua toàn bộ kết án tiêu cực về những người quản lý tiền của kibbutz, giống như nhiều doanh nghiệp thất bại khác, đặc biệt là trong thời gian khủng hoảng kinh tế chung, nhưng thủ quỹ và kế toán của kibbutz không chỉ hành động thiếu thận trọng theo quan điểm kinh doanh; họ cũng hành động không phù hợp với các giá trị của kibbutz.

Tại sao giáo dục của kibbutz không truyền tải được những giá trị đó? Cảm giác chung về trách nhiệm, vốn mạnh mẽ trong thế hệ sáng lập của kibbutz, được truyền tải cho thế hệ thứ hai, nhưng với thế hệ thứ ba và thứ tư của kibbutz, mệnh đề gốc của các nhà kinh tế đã đúng. Nhiều thành viên luôn không đóng góp năng lực tốt nhất của họ; kibbutz cảm thấy không thể thỏa mãn được nhu cầu của các thành viên.

Sự thật là kibbutz đã sống sót qua bảy thập kỷ, nhưng dường như nó là một ảo giác. Ở mức độ vật chất, hệ thống không phải luôn hoạt động, mặc dù thất bại kinh tế của nhiều kibbutz đã được che dấu. Về mặt lý tưởng cũng vậy, tất cả đều có vẻ như vậy: mặc dù thế hệ thứ ba và thứ tư vẫn tuân theo học thuyết, niềm tin của họ bị giới hạn và họ trở nên hoài nghi. Khi hệ thống đối mặt với khủng hoảng thực sự đầu tiên, một sự sụp đổ kinh tế đã khiến nó phải đối mặt với thế giới, nó hầu như đã sụp đổ và sự sống sót của nó là không chắc chắn.

Vào những ngày đầu của Degania, Yosef Bussel viết, trong một đoạn đã được trích dẫn của cuốn sách này: 
Đối con người, để suy nghĩ và cảm thấy rằng họ phải sống hoàn toàn bình đẳng và hoàn toàn hợp tác, họ phải được sinh ra trong điều đó và để điều đó diễn ra thì phải trải qua nhiều thế hệ. Nhiều điều chúng ta không thể đạt được hôm nay thì các đồng chí lớn lên trong môi trường kvutza mới sẽ đạt được. 
Sau Bussel, các nhà tư tưởng và giáo dục kibbutz đã công khai tuyên bố ý định tạo dựng “con người mới”, một con người được giải phóng khỏi các giá trị tư sản của khát vọng cá nhân và chủ nghĩa vật chất. Trong 70 năm, kibbutz là thể chế có ảnh hưởng lớn lao đối với các thành viên. Không có chế độ toàn trị nào từng thực hiện được sự kiểm soát tuyệt đối đối với các công dân như là kibbutz tự do, tự nguyện, dân chủ đã làm được đối với thành viên của nó. Israel Oz đã đúng khi chỉ ra rằng kibbutz tổ chức mọi mặt đời sống của thành viên: ăn ở, công việc, sức khỏe, giải trí, văn hóa, thực phẩm, quần áo, nghỉ ngơi, sở thích và trên hết là giáo dục và nuôi dưỡng con cái.

Bất chấp những điều kiện tối ưu, dự báo của Bussel đã sai. “Các đồng chí lớn lên trong môi trường kvutza mới” không thấm nhuần các giá trị cộng đồng và bình đẳng. Chương tiếp theo chúng ta sẽ cố gắng khám phá lý do của việc đó.

2 comments:

  1. Cùng là một mô hình xây dựng kinh tế, nhưng thực hiện ở các thời điểm lịch sử khác nhau lại mang những kết quả khác nhau. Có thể mô hình đó trước đay không ưu việt nhưng giờ lại là tuyệt vời

    ReplyDelete
  2. Một bài viết tuyệt vời

    ReplyDelete