Gadget

This content is not yet available over encrypted connections.

Friday, October 17, 2014

Từ Pol Pot đến ISIS

Xin giới thiệu với bạn đọc blog bản dịch bài viết "From Pol Pot to ISIS" đăng trên tạp chí Cold Type số 90 tháng 10 năm 2014 của nhà báo nổi tiếng John Pilger, người đã từng có mặt trong các cuộc chiến tranh ở Đông Dương cũng như Trung Đông. Bài báo chỉ ra sự tương đồng giữa Pol Pot ở Campuchia trước kia với ISIS ở Iraq hiện nay.

Từ Pol Pot đến ISIS

Truyền tải mệnh lệnh của tổng thống Richard Nixon về ném bom “hàng loạt” ở Campuchia vào năm 1969, Henry Kissinger đã nói, “Bất cứ thứ gì bay trên mọi thứ nhúc nhích”. Khi Barack Obama kích động cuộc chiến thứ bảy chống lại thế giới Hồi giáo kể từ lúc ông ta nhận giải Nobel Hòa Bình, sự cuồng loạn và dối trá có tổ chức lại gợi nhớ đến sự trung thực chết chóc của Kissinger.

Với tư cách người chứng kiến hậu quả đối với con người của các cuộc không kích dã man – cũng như chặt đầu nạn nhân, trang trí cây cối và các cánh đồng với mảnh thi thể của họ - Tôi không ngạc nhiên bởi sự thờ ơ về ký ức cũng như lịch sử, lại một lần nữa. Ví dụ đang được nói tới là sự trỗi dậy của Pol Pot và quân du kích Khmer, họ có rất nhiều tương đồng với Nhà Nước Hồi Giáo Iraq và Syria (ISIS) ngày nay. Họ cũng là những người trung cổ tàn nhẫn bắt đầu với một nhóm nhỏ. Họ cũng là sản phẩm của sự hủy diệt do Hoa Kỳ tạo ra, lần này là ở châu Á.

Theo Pol Pot, phong trào của ông ta được tạo thành bởi “dưới 5.000 du kích được trang bị nghèo nàn, không xác định về chiến lược, chiến thuật, sự trung thành và lãnh đạo”. Khi máy bay B52 của Nixon và Kissinger thực hiện “Chiến dịch Menu”, ác quỷ tối thượng của phương tây đã không thể tin vào may mắn của mình.

Hoa Kỳ ném một khối lượng bom tương đương với năm quả bom nguyên tử ở Hiroshimas xuống khu vực nông thôn Campuchia trong những năm 1969-1973. Họ đã san phẳng hết làng này tới làng khác, quay lại ném bom cả những đống đổ nát và xác chết. Những hố bom tạo thành chuỗi vòng khủng khiếp tô điểm cho cuộc tàn sát, vẫn còn thấy rõ khi nhìn từ không trung. Sự khủng bố thật không thể tưởng tượng được. Một cựu sĩ quan du kích Khmer mô tả về những người sống sót “tê liệt và họ đi loanh quoanh trong sự câm lặng ba hay bốn ngày. Bị khủng hoảng và nửa điên khùng, những người đó sẵn sàng tin vào bất cứ thứ gì mà người ta nói với họ… Điều đó khiến cho du kích Khmer dễ dàng thuyết phục được mọi người.”

Một Ủy Ban Điều Tra của Chính Phủ Phần Lan ước lượng có khoảng 600.000 người Campuchia chết trong cuộc nội chiến tiếp theo và mô tả việc ném bom là “giai đoạn khởi đầu của một thập kỷ diệt chủng”. Những gì mà Nixon và Kissinger bắt đầu, thì Pol Pot, kẻ hưởng lợi của họ, hoàn thành. Dưới bom đạn của họ, du kích Khmer đã phát triển thành đạo quân ghê ghớm với 200.000 người.

ISIS có quá khứ và hiện tại tương tự. Theo phần lớn các tính toán học thuật, cuộc xâm lược Iraq của Bush và Blair vào năm 2003 đã dẫn đến đến cái chết của khoảng 700.000 người - ở một đất nước không có lịch sử về thánh chiến. Người Kurd đã thực hiện xong các thỏa thuận về lãnh thổ và chính trị; Sunni và Shia có các tầng lớp và nhóm riêng, nhưng họ hòa bình với nhau; hôn nhân khác nhóm là bình thường. Ba năm trước cuộc xâm lược, tôi đi quanh Iraq mà chẳng cần phải sợ hãi. Trên đường đi tôi gặp những người tự hào, trên tất cả, được là người Iraq, người thừa kế của nền văn minh mà dường như đối với họ là đương đại. 

Bush và Blair đã thổi bay tất cả. Iraq giờ đây là một cái ổ thánh chiến. Al-Qaeda – giống như “chiến binh thánh chiến” của Pol Pot – tận dụng cơ hội được tạo ra từ cuộc tấn công Sốc và Sợ Hãi cũng như cuộc nội chiến tiếp theo đó. “Phản loạn” Syria cung cấp một phần thưởng còn lớn hơn, với vũ khí, logistic và tiền của CIA cũng như các quốc gia vùng Vịnh chảy qua Thổ Nhĩ Kỳ. Sự tham gia của các tân binh nước ngoài là không thể tránh khỏi. Một cựu đại sứ Anh, Oliver Miles, mới đây viết, “Chính quyền [Cameron] dường như theo đuổi hình mẫu của Tony Blair, người đã bỏ qua lời khuyên kiên định của Văn Phong Đối Ngoại, MI5 và MI6 rằng chính sách Trung Đông của chúng ta – và đặc biệt là các cuộc chiến ở Trung Đông – là lý do để tuyển chọn các thành phần Hồi giáo ở Anh cho khủng bố ở đó”.

ISIS là kẻ nối dõi của Washington và London, những người đã phá hủy Iraq cả về mặt nhà nước cũng như xã hội, thực hiện một tội ác khủng khiếp chống lại nhân loại. Giống như Pol Pot và du kích Khmer, ISIS là sự chuyển hóa của khủng bố nhà nước phương tây được dung túng bởi tầng lớp thống trị đế quốc vụ lợi đối với hậu quả của những hành động nhằm xóa sổ cả về mặt không gian lẫn văn hóa. Tội lỗi của họ không nên nhắc đến trong xã hội “của chúng ta”.

Đã 23 năm kể từ vụ diệt chủng diễn ra ở Iraq, ngay sau Chiến Tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, khi Hoa Kỳ và Anh chiếm đoạt Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và áp đặt “các biện pháp trừng phạt” khốc liệt đối với dân chúng Iraq – thật nực cười là để củng cố quyền lực nội địa của Saddam Hussein. Điều đó giống như một cuộc bao vây thời trung cổ. Hầu hết mọi thứ cần thiết cho một quốc gia hiện đại, theo thuật ngữ chuyên môn, “bị chặn” – từ chlorine để làm sạch nước tới bút chì cho trường học, linh kiện cho máy chụp X quang, thuốc giảm đau thông dụng cũng như thuốc men cho các bệnh ung thư chưa từng được biết đến trước đó sinh ra từ khói bụi của các chiến trường ở miền nam có lẫn Uranium nghèo.

Ngay trước Giáng Sinh năm 1999, Bộ Thương Mại và Công Nghiệp ở London đã cấm xuất khẩu vắc xin giúp trẻ em Iraq chống lại bệnh sốt vàng và bệnh bạch hầu. Kim Howells, một tiến sĩ dược và nghị sĩ Hạ Viện của chính quyền Blair, đã giải thích rằng: “Vắc xin trẻ em có thể được sử dụng cho vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chính quyền Anh có thể thoát khỏi sự phẫn nộ bởi truyền thông đưa tin về Iraq – phần lớn bị điều khiển bởi Văn Phòng Đối Ngoại – lên án Saddam Hussein về mọi thứ.

Với Chương Trình Đổi Dầu Lấy Lương Thực “nhân đạo” giả tạo, 100 dollar được phân phối cho mỗi đầu người Iraq cho một năm. Số tiền đó phải thanh toán cho toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội và các dịch vụ cần thiết, như điện và nước. “Hãy tưởng tượng”, Trợ lý Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Hans Von Sponeck, nói với tôi, “dùng số thù lao rẻ mạt này để giải quyết nạn thiếu nước sạch, sự thật là đa số người bệnh sẽ không thể được chăm sóc và tổn thương tăng lên hàng ngày, bạn loáng thoáng thấy ác mộng. Đừng có nhầm lẫn, điều này là khách quan. Tôi chưa từng muốn dùng từ diệt chủng, nhưng giờ điều đó là không tránh khỏi.”

Phẫn nộ, Von Sponeck đã từ chức điều phối viên nhân đạo của Liên Hiệp Quốc ở Iraq. Người tiền nhiệm của ông ta, Denis Halliday, một người quan chức Hoa Kỳ cấp cao rất khác biệt, cũng đã từ chức. Halliday nói, “Tôi được chỉ thị thực hiện một chính sách đáp ứng các định nghĩa về diệt chủng: một chính sách có chủ ý đã giết hại hơn một triệu người, trẻ em cũng như trưởng thành.”

Một nghiên cứu của Quỹ Trẻ Em Liên Hiệp Quốc, UNICEF, cho thấy giữa năm 1991 và 1998, đỉnh cao của thời kỳ cấm vận, có khoảng 500.000 cái chết “cao hơn” ở trẻ em Iraq dưới năm tuổi. Một phóng viên truyền hình Hoa Kỳ hỏi Madaleine Albright, đại sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc, “Cái giá có đáng không?”, Albright trả lời, “Chúng tôi nghĩ rằng cái giá đó là đáng”.

Vào năm 2007, quan chức cấp cao Anh quốc trả lời về sự trừng phạt, Carne Ross, được biết đến như là “Ngài Iraq”, nói với ủy ban quốc hội, “[Chính quyền Hoa Kỳ và Anh] đã loại bỏ phương tiện cần thiết cho cuộc sống của toàn bộ dân chúng”. Khi tôi phỏng vấn Carne Ross ba năm sau đó, ông ta tỏ ra ăn năn và hối lỗi. “Tôi cảm thấy xấu hổ”, ông ta nói. Hiện nay ông ta một người nói thật hiếm có về việc chính quyền lảnh tránh và truyền thông theo đuôi đóng một vai trò quan trọng trong phổ biến và duy trì sự lường gạt. “Chúng tôi cung cấp cho [các nhà báo] những câu chuyện đã được tình báo chỉnh sửa hoặc cho họ ra rìa”, ông ta nói.

Vào ngày 25 tháng 9, tiêu đề của tờ Guardia: “Chúng ta phải hành động để đối mặt với sự kinh hoàng của ISIS”. Cụm “chúng ta phải hành động” là bóng ma nổi lên, một cảnh báo về sự kìm nén của ký ức được thông tin, sự thật, bài học đã được học và sự ăn năn hay xấu hổ. Tác giả của bài báo là Peter Hain, cựu bộ trưởng của Văn Phòng Đối Ngoại phụ trách vấn đề Iraq dưới thời Blair. Vào năm 1998, khi Denis Halliday tiết lộ sự thống khổ trải rộng ở Iraq mà chính quyền Blair có trách nhiệm hàng đầu, Hain đã gọi Halliday trong bản tin tối trên BBC là “kẻ xin lỗi của Saddam”. Vào năm 2003, Hain ủng hộ cuộc xâm lược của Blair đối với Iraq nghèo khó dựa trên sự dối trá rõ ràng. Trong một cuộc họp sau đó của Đảng Lao Động, ông ta bác bỏ cuộc xâm lược là “kết quả quá khích”.

Hiện giờ Hain đòi hỏi “tấn công không lực, máy bay không người lái, trang thiết bị quân sự và những hỗ trợ khác” để “đối mặt với diệt chủng” ở Iraq và Syria. Điều đó sẽ thúc đẩy “sự cấp bách của một giải pháp chính trị”. Obama có quan điểm tương tự khi ông ta đưa ra cái được gọi là “sự hạn chế” về ném bom và tấn công bằng máy bay không người lái. Điều này có nghĩa là tên lửa và bom 500 bảng có thể san phẳng các ngôi nhà của nông dân giống như họ đã làm không có sự hạn chế ở Yemen, Pakistan, Afghanistan và Somalia - giống như họ đã làm ở Campuchia, Việt Nam và Lào. Vào ngày 23 tháng 9, một tên lửa hành trình Tomahawk bắn trúng một ngôi làng ở tỉnh Idlib Syria, giết chết khoảng một tá thường dân, có cả phụ nữ và trẻ em. Không có ai phất lá cờ đen. 

Vào ngày bài báo của Hain xuất hiện, Denis Halliday và Hans Von Sponeck có mặt ở London và tới thăm tôi. Họ không bị sốc bởi tính đạo đức giả sát nhân của chính khách, nhưng tỏ ra buồn phiền về sự kéo dài, sự thiếu vắng không thể giải thích được về ngoại giao thông minh trong việc đàm phán ngừng bắn tạm thời. Khắp thế giới, từ Bắc Ai Len tới Nepan, những người coi nhau là khủng bố và dị giáo đã lần lượt đối mặt với nhau trên bàn. Tại sao giờ không phải là ở Iraq và Syria.

Giống như bệnh Ebola từ Tây Phi, một vi khuẩn được gọi là “chiến tranh vĩnh viễn” đã vượt qua Đại Tây Dương. Ngài Richards, cho đến khi là lãnh đạo của quân đội Anh quốc, muốn “khởi động trên chiến trường” ngay. Một sự kéo dài lê thê tẻ nhạt hầu như là dịch bệnh xã hội từ Cameron, Obama và “Liên Minh Quyết Tâm” của họ - đáng chú ý là sự hung hăng khó hiểu của Tony Abbot ở Australia – như họ kê đơn nhiều bạo lực hơn từ độ cao 30.000 feet cho nơi mà máu từ các cuộc phiêu lưu trước đó chưa bao giờ khô. Họ không bao giờ nhìn thấy ném bom và họ dường như yêu thích nó chừng nào mà họ muốn nó lật đổ một trong những đồng minh sáng giá, Syria. Không có gì mới, theo như tài liệu được tiết lộ sau đây của tình báo Anh-Hoa Kỳ thể hiện: 

“Để tạo thuận lợi cho hành động của lực lượng độc lập [sic] …một nỗ lực đặc biệt cần được thực hiện để tiêu diệt các cá nhân chủ chốt [và] tiếp tục quấy dối tại Syria. CIA đã chuẩn bị, và SIS (MI6) sẽ tiến hành các cuộc trừng phạt nhỏ và tập kích [sic] trong phạm vi Syria, thực hiện thông qua liên hệ với các cá nhân … một cấp độ sợ hãi cần thiết… đụng độ mặt trận và biên giới [được dàn xếp] sẽ tạo ra cớ để can thiệp … CIA và SIS phải sử dụng … các khả năng cả về tâm lý chiến và hành động để thúc đẩy sự căng thẳng.”

Những điều đó được viết vào năm 1957, mặc dù như thể là được viết ngày hôm qua. Trong thế giới đế quốc, không có gì thay đổi. Năm ngoái, cựu bổ trưởng Ngoại giao Pháp Roland Dumas tiết lộ rằng “hai năm trước mùa xuân Ả Rập”, ông ta đã được nghe ở London là một cuộc chiến ở Syria đã được lên kế hoạch. “Tôi sẽ nói với anh điều này”, ông ta nói trong buổi phỏng vấn với kênh truyền hình Pháp LPC, “Tôi đã ở Anh hai năm trước khi bạo lực nổ ra ở Syria trong một công việc khác. Tôi đã gặp quan chức hàng đầu của Anh, người thú nhận với tôi rằng họ chuẩn bị một số thứ ở Syria. Họ thậm chí cũng đã hỏi tôi, mặc dù tôi không còn là bộ trưởng ngoại giao, rằng tôi có muốn tham gia … Chiến dịch này đã quay trở lại. Nó đã được chuẩn bị, hình thành và lập kế hoạch.”

Đối thủ đáng kể nhất của ISIS là những ác quỷ được thừa nhận của phương tây – Syria, Iran, Hezbollah. Cản trở là Thổ Nhĩ Kỳ, một “đồng minh” và là thành viên NATO, nước đã âm mưu cùng với CIA, MI6 và các kẻ trung cổ ở vùng Vịnh một kênh hỗ trợ “phiến quân” Syria, trong đó có cả những kẻ mà hiện giờ tự gọi mình là ISIS. Hỗ trợ Thổ Nhĩ Kỳ trong khát vọng lâu dài về thống trị khu vực thông qua việc lật đổ chính quyền Assad đã khơi dậy một cuộc chiến kinh điển và sự tan rã kinh hoàng của quốc gia đa dạng sắc tộc nhất Trung Đông. 

Sự ngừng bắn – mặc dù khó có thể đạt được – là con đường duy nhất thoát khỏi mớ bòng bong đế quốc; mặt khác, những vụ chặt đầu sẽ tiếp tục. Các cuộc đàm phán chân thành với Syria có thể bị coi là “đáng ngờ về mặt đạo đức” (tờ Guardia) cho thấy giả định về sự ưu việt đạo đức của những người ủng hộ tội phạm chiến tranh Blair không chỉ là nực cười, mà là nguy hiểm.

Cùng với ngừng bắn, cần phải có sự chấm dứt ngay lập tức chuyển giao trang thiết bị chiến tranh cho Israel và công nhận nhà nước Palestin. Vấn đề Palestine là vết thương hở nhức nhối nhất của khu vực, và thường được dùng để biện minh cho sự trỗi dậy của Hồi giáo cực đoan. Osama bin Laden đã cho thấy rõ. Palestine cũng đưa ra hi vọng. Hãy mang công lý cho người Palestine và bạn sẽ thay đổi thế giới quanh họ.

Hơn 40 năm trước đây, Nixon-Kissinger ném bom Campuchia đã tạo ra một chuỗi đau khổ khiến cho quốc gia này không bao giờ có thể hồi phục. Đó là điều tương tự về tội ác của Blair-Bush ở Iraq. Với sự lựa chọn thời điểm hoàn hảo, tập sách nghiên cứu mới nhất của Kissinger đã được phát hành với tiêu đề châm biếm, “Trật Tự Thế Giới”. Trong một bình luận bợ đỡ, Kissinger được mô tả như là “người thảo kế hoạch chủ chốt của trật tự thế giới đã ổn định trong một phần tư thế kỷ”. Hãy nói điều đó với người dân Campuchia, Việt Nam, Lào, Chi Lê, Đông Timor và tất cả các nạn nhân khác bởi “tài năng chính trị” của ông ta. Chỉ khi “chúng ta” thừa nhận các tội phạm chiến tranh giữa chúng ta thì máu mới ngừng chảy.

No comments:

Post a Comment